vanban.org

Quyết định 07/2022/QĐST-HC — Hành chính

TAND tỉnh Hà Giang Tuyên án 19/08/2022 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số 06/2022/TLST ngày 02/6/2022 về “Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa:

Người khởi kiện: Ông Nguyễn Đức L; địa chỉ: SN 26, ngõ 19, tổ 15, phường Trần Phú, thành phố H, tỉnh H. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Đức Mai, Luật sư Văn phòng luật sư Hà Phú - Đoàn luật sư thành phố Hà Nội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Người khởi kiện ông Nguyễn Đức L, người bị kiện UBND tỉnh H"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số 06/2022/TLST ngày 02/6/2022 về “Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa:
  • Căn cứ chính? Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính; Điều 38 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07/2022/QĐST-HCH, ngày 19 tháng 8 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH H

Căn cứ vào khoản 5 Điều 38, Điều 143 và Điều 144 của Luật tố tụng hành chính;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính sơ thẩm;

Xét thấy: Tại Biên bản làm việc ngày 15 tháng 4 năm 2022, người khởi kiện ông Nguyễn Đức L xác định yêu cầu khởi kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử đụng đất (GCNQSDĐ) số O 529511, GCNQSDĐ số O 529542 do Ủy ban nhân dân tỉnh H cấp ngày 17/7/1999 mang tên hộ bà Nguyễn Thị N và đề nghị Tòa án kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh H cấp lại GCNQSDĐ (gồm toàn bộ diện tích đất bà N đã tặng cho ông L và phần diện tích đất còn thiếu chưa được cấp GCNQSDĐ).

Tại Điều 1 của Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 1989/SCC ngày 24/10/2019 giữa bên tặng cho gồm bà: Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Đức T, ông Nguyễn Tấn Đ, bà Nguyễn Thị Trung T1, bà Kiều Thị Thanh D, bà Nguyễn Thu T2 và bên nhận tặng cho là ông Nguyễn Đức L thể hiện bên tặng cho đã tặng cho ông Nguyễn Đức L quyền sử dụng đất của hộ bà Nguyễn Thị N theo 02 GCNQSDĐ. Trong đó GCNQSDĐ số O 529511 do Ủy ban nhân dân tỉnh H cấp ngày 17/7/1999 có thông tin: Thửa đất số 1, tờ bản đồ số 8, diện tích 289,9m2; GCNQSDĐ số O 529542 do Ủy ban nhân dân tỉnh H cấp ngày 17/7/1999 có thông tin: Thửa đất số 6, tờ bản đồ số 8, diện tích 502m2 (Địa chỉ đât tại tổ 15, phường Trần Phú, thành phố H, tỉnh H).

Tại GCNQSDĐ số O 529511 do Ủy ban nhân dân tỉnh H cấp ngày 17/7/1999 mang tên hộ bà Nguyễn Thị N thể hiện hộ bà N được công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 289,9m2 đất thuộc Thửa đất số 1, tờ bản đồ số 8 (tại tổ 15, phường Trần Phú, thành phố H, tỉnh H). Ngày 06/11/2019 đã đăng ký biến động tặng cho ông Nguyễn Đức L.

Tại GCNQSDĐ số O 529542 do Ủy ban nhân dân tỉnh H cấp ngày 17/7/1999 mang tên hộ bà Nguyễn Thị N thể hiện hộ bà N được công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 502m2 đất thuộc Thửa đất số 6, tờ bản đồ số 8 (tại tổ 15, phường Trần Phú, thành phố H, tỉnh H). Ngày 06/11/2019 đã đăng ký biến động tặng cho ông Nguyễn Đức L.

Theo quy định tại Điều 116 Luật tố tụng hành chính, thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính xâm phạm đến quyền và L ích hợp pháp; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện. Ông L biết rõ bà Nguyễn Thị N được cấp GCNQSDĐ số O 529511 do Ủy ban nhân dân tỉnh H cấp ngày 17/7/1999 mang tên hộ bà Nguyễn Thị N đối với diện tích 289,9m2 đất thuộc thửa đất số 1, tờ bản đồ số 8 và GCNQSDĐ số O 529542 do Ủy ban nhân dân tỉnh H cấp ngày 17/7/1999 mang tên hộ bà Nguyễn Thị N đối với diện tích 502m2 đất thuộc thửa đất số 6, tờ bản đồ số 8 từ ngày 24/10/2019 (ngày nhận tặng cho quyền sử dụng đất theo Hợp đồng tặng cho số 1989/SCC ngày 24/10/2019) và ngày đăng ký biến động tặng cho quyền sử dụng đất cho ông L (ngày 06/11/2019), nhưng đến ngày 21/12/2021 ông L mới khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án. Như vậy, thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính đối với yêu cầu khởi kiện của ông L về việc yêu cầu hủy GCNQSDĐ số O 529511 và GCNQSDĐ số O 529542 do Ủy ban nhân dân tỉnh H cấp ngày 17/7/1999 mang tên hộ bà Nguyễn Thị N đã hết thời hiệu khởi kiện, cần đình chỉ vụ án theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính.

Đối với đề nghị của ông Nguyễn Đức L về việc đề nghị Tòa án kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh H cấp lại GCNQSDĐ (gồm toàn bộ diện tích đất bà N đã tặng cho ông L và phần diện tích đất còn thiếu chưa được cấp GCNQSDĐ) không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, không thụ lý giải quyết.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số 06/2022/TLST ngày 02/6/2022 về “Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa:

- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Đức L; địa chỉ: SN 26, ngõ 19, tổ 15, phường Trần Phú, thành phố H, tỉnh H.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Đức Mai, Luật sư Văn phòng luật sư Hà Phú - Đoàn luật sư thành phố Hà Nội.

- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân tỉnh H;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Đinh Thế Mạnh, chức vụ: Quyền Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N; địa chỉ: tổ 15, phường Trần Phú, thành phố H, tỉnh H.

2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: Đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án, nếu việc khởi kiện này không có gì khác với vụ án đã bị đình chỉ về người khởi kiện, người bị kiện và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ các trường hợp bị đình chỉ theo quy định tại các điểm b, c và e khoản 1 Điều 123, điểm b và điểm đ khoản 1 Điều 143 của Luật này và trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Ông Nguyễn Đức L không phải chịu tiền án phí hành chính sơ thẩm. Trả lại cho ông L số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0000083 ngày 30/5/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh H.

4. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định này hoặc kể từ ngày Quyết định này được niêm yết công khai theo quy định của Luật tố tụng hành chính./.

Cỡ chữ