vanban.org

Quyết định 07/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 12/05/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của ông Nguyễn Hữu Kh.

Tuyên bố bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1973, nơi cư trú cuối cùng: thôn Đ, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang là đã chết kể từ ngày 12/5/2022. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Hữu Kh phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Nguyễn Hữu Kh - Nguyễn Thị B"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của ông Nguyễn Hữu Kh.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07/2022/QĐST-DST, ngày 12 tháng 5 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN – TỈNH BẮC GIANG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Bùi Tư Duy

Thư ký phiên họp: Bà Vi Thị Lan Phương - Thư ký Tòa án;

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên họp:

Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 12/2021/TLST-DS ngày 30 tháng 11 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Hữu Kh, sinh năm 1966 (có mặt)

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1973 (vắng mặt)

Nơi cư trú cuối cùng: Thôn Đ, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, Bản tự khai của ông Nguyễn Hữu Kh trình bày:

Bố mẹ ông là cụ Nguyễn Hữu H (sinh năm 1938 - chết năm 1993) và cụ Hoàng Thị Ng (sinh năm 1938 - chết năm 2015) sinh được 05 người con chung gồm: Nguyễn Thị Th (sinh năm 1963), Nguyễn Hữu Kh (sinh năm 1966), Nguyễn Thị H1 (sinh năm 1969), Nguyễn Thị B (sinh năm 1973), Nguyễn Thị N (sinh năm 1975).

Năm 1992, em gái ông là bà Nguyễn Thị B đã bỏ đi khỏi địa phương, khi đi không thông báo gì cho gia đình. Gia đình ông đã tìm kiếm nhiều năm nhưng không có tin tức gì của bà B. Năm 2018, ông làm đơn đề nghị Tòa án tuyên bố bà B mất tích. Tại Quyết định số 01/2018/QĐDS-ST ngày 23/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện T đã tuyên bố bà Nguyễn Thị B mất tích. Kể từ thời điểm tuyên bố mất tích đến nay là 03 năm nhưng không thấy bà B trở về địa phương, và gia đình ông cũng không có tin tức gì về việc bà B còn sống hay đã chết. Nay ông yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị B - sinh năm 1973, nơi cư trú cuối cùng: thôn Đ, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang là đã chết. Ông không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của bà B.

Tại phiên họp, ông Nguyễn Hữu Kh có mặt và giữ nguyên yêu cầu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T trình bày quan điểm giải quyết việc dân sự: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Hữu Kh, tuyên bố bà Nguyễn Thị B là đã chết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện T nhận định:

Về tố tụng: Ông Nguyễn Hữu Kh yêu cầu giải quyết tuyên bố một người là đã chết đối với bà Nguyễn Thị B, có nơi cư trú cuối cùng tại thôn Đ, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân huyện T đã thụ lý giải quyết yêu cầu của ông Kh là đúng pháp luật, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu tuyên bố một người là đã chết:

Bà Nguyễn Thị B bỏ nhà đi từ năm 1992 đến nay không có tin tức gì. Tại Quyết định số 01/2018/QĐDS-ST ngày 23/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện T đã tuyên bố bà Nguyễn Thị B mất tích. Kể từ khi quyết định tuyên bố mất tích có hiệu lực pháp luật đến nay đã quá 03 năm nhưng không thấy bà B trở về địa phương và cũng không có tin tức gì về việc bà B còn sống hay đã chết.

Sau khi thụ lý việc dân sự về việc tuyên bố một người là đã chết, Tòa án đã đăng thông báo tìm kiếm đối với bà Nguyễn Thị B trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật. Đến nay đã hết thời hạn thông báo là 04 tháng nhưng bà B không trở về và cũng không có tin tức xác thực xác định bà B còn sống hay đã chết. Qua xác minh, gia đình bà B và chính quyền địa phương đều xác định bà B đi khỏi địa phương từ năm 1992 đến nay không về và không có tin tức, địa chỉ gì.

Tại điểm a khoản 1 Điều 71 của Bộ luật dân sự quy định: “1. Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây: a) Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống”. Như vậy xét yêu cầu của ông Nguyễn Hữu Kh và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện T tuyên bố bà Nguyễn Thị B là đã chết là có căn cứ, cần chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 361, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 391, Điều 393 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 71 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của ông Nguyễn Hữu Kh.

2. Tuyên bố bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1973, nơi cư trú cuối cùng: thôn Đ, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang là đã chết kể từ ngày 12/5/2022.

3. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Hữu Kh phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số 0011383 ngày 30/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T. Ông Kh đã nộp đủ tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu có mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết quyết định.

Viện kiểm sát nhân dân huyện T có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ