vanban.org

Quyết định 07/2021/VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị V.

Tuyên bố: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1952; địa chỉ khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh B “mất năng lực hành vi dân sự”. Người giám hộ đương nhiên của ông Phạm Văn T: Thực hiện theo quy định tại Điều 53 Bộ luật dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Ông Phạm Văn T “mất năng lực hành vi dân sự”."
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị V.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẤT ĐỎ
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07/2021/QĐST-VDS
Ngày: 16-6-2021
Đất Đỏ, ngày 16 tháng 6 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

T phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Châu Nguyễn Xuân Thu

Thư ký phiên họp: Bà Trương Thị Hoàn - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ tham gia phiên họp: Bà Đoàn Thị Thìn - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 3 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 20/2021/TLST-VDS ngày 05 tháng 3 năm 2021 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp số 22/2021/QĐST-VDS ngày 10 tháng 6 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị V, sinh năm 1959; địa chỉ: Tổ 30 ấp G, xã Li, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (Có mặt).

2. Người bị yêu cầu: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1952; Địa chỉ: khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh B (Vắng mặt).

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Nguyễn Thị B, sinh năm: 1937 (Vắng mặt).

+ Bà Phạm Thị Thanh X, sinh năm 1963 (Vắng mặt).

+ Bà Phạm Thị Thu C, sinh năm 1967 (Vắng mặt).

+ Bà Phạm Thị Thúy L, sinh năm 1972 (Vắng mặt).

+ Bà Phạm Thị Trang Đ, sinh năm 1976 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh B NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Bà Phạm Thị V yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Văn T, sinh năm 1952; địa chỉ: khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh B mất năng lực hành vi dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ nhận định:

Về tố tụng: Bà Phạm Thị V yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự là loại việc dân sự, người bị yêu cầu cư trú tại huyện Đất Đỏ nên Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ theo khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của đương sự:

Theo đơn yêu cầu ghi ngày 02 tháng 3 năm 2021, bản khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên họp người yêu cầu bà Phạm Thị V trình bày như sau: Bà Phạm Thị V, sinh năm 1959 có quan hệ là em ruột của ông Phạm Văn T, sinh năm 1952. Ông Phạm Văn T bị tâm thần bẩm sinh từ nhỏ không nhận thức và điều khiển về hành vi của mình, được bệnh viện chẩn đoán là mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, mọi sinh hoạt hằng ngày phải có người chăm sóc. Do đó, bà V yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Văn T là người bị mất năng lực hành vi dân sự, để thuận tiện cho việc giải quyết những vấn đề trong gia đình có liên quan đến ông T.

Xét đơn yêu cầu, lời trình bày của người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với chứng cư do đương sự giao nộp, chứng cứ do Tòa án thu thập được, xác định ông Phạm Văn T, sinh năm 1952; địa chỉ: khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh B có bệnh liên quan đến não, không còn nhận thức và điều khiển hành vi. Theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Bộ luật dân sự: "Khi một người do bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan…,Tòa án ra quyết định tuyên bố người này mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở giám định pháp y về tâm thần".

Tại kết luận giám định pháp y tâm thần số 449/KLGD ngày 06 tháng 4 năm 2021 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực T phố Hồ Chí Minh kết luận như sau:

"1.1. Về y học: Đương sự chậm phát triển tâm thần, mức độ nặng (F72-ICD10)

1.2. Về khả năng nhận thức điều khiển hành vi: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi".

Như vậy, yêu cầu của bà Phạm Thị V về việc yêu cầu tuyên bố ông Phạm Văn T bị mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ nên chấp nhận.

Về lệ phí: Do người yêu cầu (bà Phạm Thị V) là người cao tuổi nên không phải chịu lệ phí sơ thẩm việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Về phát biểu của Kiểm sát viên: Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà V là có căn cứ nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 22, 53 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Khoản 1 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, 149, 228, 367, 369, 370, 371, 372, 378 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị V.

- Tuyên bố: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1952; địa chỉ khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh B “mất năng lực hành vi dân sự”.

Người giám hộ đương nhiên của ông Phạm Văn T: Thực hiện theo quy định tại Điều 53 Bộ luật dân sự.

- Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà V không phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự.

- Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định (Ngày 16/6/2021); đối với đương sự vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ