- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "NGUYÊN THỊ T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Số: 07/2021/QĐST-VDS | Dĩ An, ngày 05 tháng 7 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thương.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 179/2021/TLST- VDS ngày 02 tháng 6 năm 2021, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp số: 07/2021/QĐST-VDS ngày 22 tháng 6 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970; thường trú: Số A, đường B, khu phố C, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn H Y, sinh năm 1996; thường trú: Số A, đường B, khu phố C, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2. Chị Nguyễn Phương T1, sinh năm 1998; thường trú: Số A, đường B, khu phố C, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 01/6/2021 và lời khai trong quá trình giải quyết việc dân sự bà Nguyễn Thị T trình bày:
Cháu Nguyễn Duy S, sinh ngày 05/02/2009 là con ruột của bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn H (đã chết). Ngay từ khi sinh ra cháu S đã có biểu hiện của bệnh kém phát triển nên vợ chồng bà đã đưa con đi điều trị tại bệnh viện Tâm thần Trung ương tại Biên Hòa, Đồng Nai và nhiều bệnh viện khác trên cả nước nhằm chữa trị bệnh cho cháu S. Mặc dù đã tốn kém rất nhiều tiền bạc và công sức chữa bệnh nhưng bệnh tình của cháu S vẫn không thay đổi. Mặc dù cháu S đã 12 tuổi nhưng vẫn không thể đi học, không biết chữ và không kiểm soát được hành vi của mình. Mọi sinh hoạt của cháu S phải do bà T và các anh chị em trong gia đình phụ giúp.
Cuối năm 2017 chồng bà T là ông Nguyễn Văn H đột ngột qua đời, mình bà T phải chăm sóc 03 con gồm cháu Nguyễn Hải Y, cháu Nguyễn Phương T1, và cháu Nguyễn Duy S. Hiện nay bệnh tình của cháu S càng ngày càng nặng, không có khả năng nhận thức và kiểm soát được hành vi. Nay chị T làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố cháu Nguyễn Duy S, sinh ngày 05/02/2009 là người mất năng lực hành vi dân sự và yêu cầu Tòa án chỉ định người giám hộ cho cháu S là mẹ ruột bà Nguyễn Thị T.
- Tại bản tự khai ngày 16/6/2021, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Hải Y và chị Nguyễn Phương T1 trình bày:
Chị Y và chị T1 là con của bà T và ông H (đã chết). Chị Y và chị T1 là chị ruột của Nguyễn Duy S. Nay chị Y và chị T1 thống nhất với lời trình bày của người yêu cầu về việc tình hình sức khỏe, thời gian mắc bệnh và bệnh tình hiện tại của Nguyễn Duy S. Nay bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố Nguyễn Duy S bị mất năng lực hành vi dân sự thì tất cả cũng đồng ý.
Thống nhất đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định chỉ định bà Nguyễn Thị T là người giám hộ cho cháu Nguyễn Duy S.
- Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 448/KL-VPYTW ngày 21/6/2021 của Viện pháp y Tâm thần Trung Ương Biên Hòa, kết luận:
+ Về y học: Hiện nay, đương sự bị bệnh chậm phát triển tâm thần mức độ nặng (F72-ICD.10).
+ Về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi: Hiện nay, đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:
+ Quá trình giải quyết việc dân sự từ khi thụ lý đến ngày mở phiên họp, Thẩm phán, Thư ký được phân công đã tiến hành tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
+ Ý kiến về nội dung vụ việc: Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ việc dân sự do bà Nguyễn Thị T yêu cầu. Viện kiểm sát xét thấy, căn cứ vào tài liệu chứng cứ đương sự cung cấp và kết luận giám định pháp y tâm thần đối với cháu Nguyễn Duy S, có đủ căn cứ để xác định cháu Nguyễn Duy S là người bị mất năng lực hành vi dân sự và bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án chỉ định bà là người giám hộ cho Nguyễn Duy S là có căn cứ. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhận định:
[1] Về tố tụng: Người yêu cầu bà Nguyễn Thị T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Hải Y và chị Nguyễn Phương T1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, căn cứ Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án mở phiên họp vắng mặt bà Nguyễn Thị T, chị Nguyễn Hải Y, chị Nguyễn Phương T1.
[2] Về nội dung: Cháu Nguyễn Duy S, sinh ngày 05/02/2009 từ khi sinh ra đã có biểu hiện của bệnh kém phát triển cho nên gia đình đưa đi khám và điều trị tại nhiều bệnh viện nhưng không có tiến triển. Sau một thời gian uống thuốc và điều trị bệnh tình của cháu S không được cải thiện, dần dần mất khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi.
[3] Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, lời khai của đương sự kết hợp với chứng cứ là Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 448/KL-VPYTW ngày 21/6/2021 của Viện pháp y Tâm thần Trung Ương Biên Hòa, kết luận:
+ Về y học: Hiện nay, đương sự bị bệnh chậm phát triển tâm thần mức độ nặng (F72-ICD.10).
+ Về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi: Hiện nay, đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Như vậy, bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố cháu Nguyễn Duy S mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 22 Bộ luật Dân sự nên Tòa án chấp nhận.
[4] Theo quy định tại Điều 53 Bộ luật Dân sự thì người giám hộ đương nhiên của cháu Nguyễn Duy S là ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị T. Nhưng hiện tại ông Nguyễn Văn H đã chết (ngày 04/12/2017) nên bà Nguyễn Thị T là người giám hộ đương nhiên của cháu Nguyễn Duy S, sinh ngày 05/02/2009.
[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương là phù hợp nên Tòa án chấp nhận.
[6] Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, các Điều 149, 150, 361, 367, 370, 371, 372, 376, 377 và 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22; Điều 53 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.
Tuyên bố cháu Nguyễn Duy S, sinh ngày 05/02/2009; thường trú: Số A, đường B, khu phố C, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương là người mất năng lực hành vi dân sự.
Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970; thường trú: Số A, đường B, khu phố C, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương là người giám hộ cho cháu Nguyễn Duy S, sinh ngày 05/02/2009.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng lệ phí sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0049665 ngày 01 tháng 6 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố D, tỉnh Bình Dương.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Dĩ An (01); - THA thành phố D (01); - Đương sự ; - Lưu: VT, HSVA (02). | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Thương |