vanban.org

Quyết định 07/2021/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội Tuyên án 31/03/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Huy C về việc tuyên bố cụ Lê Huy H là đã chết.

[2]. Tuyên bố cụ Lê Huy H, sinh năm 1941; Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Số 40, ngõ T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội (nay là Số 27 ngách 91 ngõ T phố T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội) đã chết ngày 16/6/2014. [3]. Khi quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Ông Lê Huy C yêu cầu tuyên bố cụ Lê Huy H là đã chết"
  • Tòa quyết gì? [1]. Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Huy C về việc tuyên bố cụ Lê Huy H là đã chết.
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07/2021/QĐST-VDSHai Bà Trưng, ngày 31 tháng 3 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc: "Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết"

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Ông Phạm Văn Tiến - Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Bà Đinh Thị Thủy - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Vũ Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 121/2020/TLST-VDS ngày 13 tháng 10 năm 2020; về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo Quyết định mở phiên họp số 04/2021/QĐST - VDS ngày 03 tháng 03 năm 2021 của Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: ông Lê Huy C, sinh năm 1970; địa chỉ: Số 27 ngách 91 ngõ T phố T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội; yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết đối với cụ Lê Huy H, sinh năm 1941; Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Số 27 ngách 91 ngõ T phố T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lê Huy N, sinh năm 1972; Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Số 27, ngách 91 ngõ T, phố T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.

2. Bà Lê Thị Kim D, sinh năm 1965; Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Số 190 ngõ T, phố T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.

3. Bà Lê Thị Thanh T, sinh năm 1968; Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Phòng 104 C3 Tập thể Q, quận H, TP. Hà Nội.

4. Bà Lê Thị L, sinh năm 1975; Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Số 161 ngõ T, phố T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.

5. Bà Lê Thị S, sinh năm 1977; Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Số 35 ngách 51 L, phường V, quận Đ, TP. Hà Nội Có mặt tại phiên họp: ông C, bà L; Các ông bà: ông N, bà D, bà T và bà S có đơn xin vắng mặt tại phiên họp

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu đề ngày 20 tháng 8 năm 2020 và bản tự khai cũng như tại phiên họp hôm nay ông Lê Huy C trình bày:

Bố ông là cụ Lê Huy H, sinh năm 1941, mẹ ông là cụ Trần Thị T, sinh năm 1942, chết năm 1985. Bố mẹ ông sinh được sáu người con là bà Lê Thị Kim D, sinh năm 1965, bà Lê Thị Thanh T, sinh năm 1968; ông là Lê Huy C, sinh năm 1970; ông Lê Huy N, sinh năm 1972; bà Lê Thị L, sinh năm 1975 và bà Lê Thị S, sinh năm 1977.

Bố ông sinh ra tại nước Lào nhưng khi được khoảng 3 - 4 tuổi thì chuyển về sinh sống tại Việt Nam ở địa chỉ: Số 40, ngõ T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội (nay là Số 27 ngách 91 ngõ T phố T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội). Vì bố ông lớn lên và sinh sống tại Hà Nội nên ở Lào không có người thân thích.

Ngày 16/06/2009 bố ông đã bỏ nhà đi và có viết thư tay cho các con, bố vào Miền Nam sinh sống nên giao quyền sử dụng nhà và đất cho các con, từ khi bố ông bỏ đi gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì. Vào khoảng năm 2012 gia đình đã vào nơi đóng quân của bố ông trước đây tại tỉnh Nghệ An để tìm kiếm nhưng không thấy thông tin gì của bố ông. Gia đình đã nhờ Đài truyền hình Nghệ An đăng tin tìm kiếm nhưng không thấy kết quả gì. Vào ngày 12 tháng 11 năm 2014 gia đình đã nhờ chương trình: “Như chưa hề có cuộc chia ly” tìm kiếm, nhưng đến nay vẫn không có thông tin gì về bố ông. Từ tháng 03 năm 2013 Bảo hiểm Xã hội quận Hai Bà Trưng đã tạm dừng trả lương hưu cho bố ông. Nay gia đình ông đề nghị Tòa án tuyên bố cụ Lê Huy H đã chết để các con làm thủ tục liên quan đến thủ tục nhà và đất theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Lê Thị Kim D, bà Lê Thị Thanh T, ông Lê Huy N, bà Lê Thị L và bà Lê Thị S trình bày:

Cụ Lê Huy H, sinh năm 1941 và cụ Trần Thị T, sinh năm 1942, chết năm 1985. Các cụ sinh được sáu người con là Bà Lê Thị Kim D, sinh năm 1965, Bà Lê Thị Thanh T, sinh năm 1968; Ông là Lê Huy C, sinh năm 1970; Ông Lê Huy N, sinh năm 1972; bà Lê Thị L, sinh năm 1975 và bà Lê Thị S, sinh năm 1977.

Ngày 16/06/2009 cụ Lê Huy H là bố đẻ đã bỏ nhà đi và có viết thư tay cho các con, nói là bố vào miền Nam sinh sống nên đã giao nhà và đất cho các con quản lý. Từ khi cụ H bỏ đi gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có kết quả và không có thông tin gì. Vào khoảng năm 2012 gia đình đã vào nơi đóng quân của cụ H trước đây tại tỉnh Nghệ An để tìm kiếm nhưng không thấy thông tin gì, gia đình cũng đã nhờ Đài truyền hình Nghệ An đăng tin tìm kiếm nhưng cũng không có kết quả gì, việc đăng tin này cũng không có thông tin gì về cụ Hiếu. Cuối năm 2014 gia đình đã nhờ chương trình: “Như chưa hề có cuộc chia ly” để tìm kiếm nhưng đến nay vẫn không có thông tin gì về cụ Lê Huy H. Nay gia đình đề nghị Tòa án tuyên bố là cụ Lê Huy H đã chết để các con làm thủ tục liên quan đến quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp ông Lê Huy C vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên một người là đã chết đối với cụ Lê Huy H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội sau khi đánh giá chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Lê Huy C về việc tuyên bố một người là đã chết đối với cụ Lê Huy H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội nhận định:

[1]. Ông Lê Huy C có quyền yêu cầu tuyên bố cụ Lê Huy H là đã chết theo quy định tại khoản 1 Điều 391 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về thẩm quyền: Xét đơn của ông Lê Huy C yêu cầu tuyên bố cụ Lê Huy H là đã chết là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Xét yêu cầu của đương sự:

. Cụ Lê Huy H, sinh năm 1941 và cụ Trần Thị T, sinh năm 1942, chết năm 1985. Hai cụ sinh được sáu người con là bà Lê Thị Kim D, sinh năm 1965, bà Lê Thị Thanh T, sinh năm 1968; ông Lê Huy C, sinh năm 1970; ông Lê Huy N, sinh năm 1972; bà Lê Thị L, sinh năm 1975 và bà Lê Thị S, sinh năm 1977. Theo các đương sự trình bày: Ngày 16/06/2009 cụ Lê Huy H đã bỏ nhà đi và có viết thư tay gửi các con, bố vào Miền Nam sinh sống nên giao quyền sử dụng nhà và đất cho các con, từ khi cụ H bỏ nhà đi gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì. Nay gia đình đề nghị Tòa án tuyên bố cụ Lê Huy H đã chết để các con làm thủ tục liên quan đến thủ tục nhà và đất theo quy định của pháp luật. Xác minh tại địa phương xác nhận cụ Lê Huy H đã từ lâu không có mặt tại địa bàn dân cư. Xác minh tại Bảo hiểm xã hội quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội thể hiện ông Lê Huy H, nguyên là cán bộ Xí nghiệp chế biến ....., nghỉ hưởng chế độ hưu trí từ tháng 07/1982 số sổ hưu trí: 2...., ông Lê Huy H đã lĩnh tiền lương hưu hàng tháng tại tổ 8 phường T, quận H, Thành phố Hà Nội từ tháng 07/1982 hết tháng 02/2013, từ tháng 3/2013 đến tháng 8/2013 Ban chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH của Ủy ban nhân dân phường T trả lại Bảo hiểm xã hội quận Hai Bà Trưng do ông H lâu ngày không lên lĩnh, ngày 19/8/2013 Bảo hiểm xã hội quận Hai Bà Trưng đã ra thông báo số 143/TB-BHXH tạm dừng chi trả lương hưu hàng tháng của ông Lê Huy H. Từ tháng 03/2013 đến nay ông Lê Huy H chưa đến Bảo hiểm xã hội quận Hai Bà Trưng đề nghị để được tiếp tục lĩnh tiền lương hưu hàng tháng. Cuối năm 2014 gia đình đã nhờ chương trình: “Như chưa hề có cuộc chia ly” để tìm kiếm nhưng đến nay vẫn không có thông tin gì về cụ Lê Huy H.

Ngày 19/10/2020 Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết số 01/2020/QĐ-TA đối với cụ Lê Huy H. Quyết định này đã được đăng, phát trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật. Thông báo trên báo nhân dân 03 số liên tiếp vào các ngày 22,23 và 24 tháng 10 năm 2020; Nhắn tìm trên VOV đài tiếng nói Việt Nam vào các ngày 22,23 và 24 tháng 10 năm 2020; Đăng tải trên cổng thông tin điện tử từ ngày 19/10/2020.

Như vậy có thể khẳng định cụ Lê Huy H đã biệt tích từ ngày16/6/2009 đã trên 10 năm mà không có tin tức gì.

Về thời điểm tuyên bố cụ Lê Huy H chết: Cụ H đã biệt tích từ ngày 16 tháng 6 năm 2009 đến nay; theo quy định tại khoản 2 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì ngày chết được xác định là ngày biệt tích sau 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; Như vậy, ngày chết của cụ Lê Huy H là ngày 16/6/2014.

Yêu cầu tuyên bố một người đã chết đối với cụ Lê Huy H của ông Lê Huy C là phù hợp với quy định tại Điều 71 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.

Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết được giải quyết theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Tòa án.

Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị Kim D, bà Lê Thị Thanh T, ông Lê Huy N và bà Lê Thị S tại phiên họp, trong quá trình giải quyết những ông bà này đều có đơn xin vắng mặt tại phiên họp. Xét thấy các ông bà đều có bản tự khai tại toà và đồng ý với quan điểm của ông Lê Huy Ch, việc vắng mặt của các ông bà tại phiên họp không ảnh hưởng đến quyền lợi của mình; Do vậy căn cứ khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành phiên họp vắng mặt bà Lê Thị Kim D, bà Lê Thị Thanh T, ông Lê Huy N và bà Lê Thị S.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Căn cứ khoản 4 Điều 27; Điều 367; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372 Điều 392 và Điều 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1]. Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Huy C về việc tuyên bố cụ Lê Huy H là đã chết.

[2]. Tuyên bố cụ Lê Huy H, sinh năm 1941; Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Số 40, ngõ T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội (nay là Số 27 ngách 91 ngõ T phố T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội) đã chết ngày 16/6/2014.

[3]. Khi quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của cụ Lê Huy H được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

[4]. Lệ phí việc dân sự sơ thẩm: Ông Lê Huy C tự nguyện chịu cả 300.000đồng lệ phí việc dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng ông đã nộp tạm ứng lệ phí tại Biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí số AA/2019/0003549 ngày 13/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.

[5]. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp họ không có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự thì thời hạn đó được tính từ ngày họ nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết./.

Cỡ chữ