vanban.org

Quyết định 07/2021/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của anh Nguyễn Thanh P đối với ông Nguyễn Văn Q.

Tuyên bố ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1956; nơi cư trú: ấp T, xã C, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương mất năng lực hành vi dân sự. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: anh Nguyễn Thanh P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "tuyên bố mất NLHVDS"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của anh Nguyễn Thanh P đối với ông Nguyễn Văn Q.
  • Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07/2021/QĐST-DSBàu Bàng, ngày 22 tháng 11 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Mai.

Thư ký phiên họp: Bà Phan Thị Phương, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Mai Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 57/2021/TLST-DS ngày 06 tháng 4 năm 2021 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 06/2021/QĐST-DS ngày 16 tháng 11 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: anh Nguyễn Thanh P, sinh năm 1981; nơi cư trú: ấp T, xã A, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1956; nơi cư trú: ấp T, xã C, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương (bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự), vắng mặt .

2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1953; nơi cư trú: ấp T, xã C, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương; có mặt.

3. Ông Nguyễn Văn Minh, sinh năm 1958; nơi cư trú: ấp S, xã A, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 20 tháng 3 năm 2021, trong quá trình giải quyết và tại phiên họp sơ thẩm, người yêu cầu giải quyết việc dân sự anh Nguyễn Thanh P trình bày:

Ông Nguyễn Văn Q là cậu ruột của anh Nguyễn Thanh P. Cha mẹ của ông Q là ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị Th hiện nay đã chết. Sau khi bà ngoại anh P mất thì ông Q chuyển về nhà chị ruột là bà Nguyễn Thị M. Năm 2011, bà M chết ông Q chuyển về sinh sống cùng với bà Nguyễn Thị T. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2019/DS-ST ngày 11 tháng 7 năm 2019, của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xác định ông Q cùng các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà L, bà H, anh X, anh P và anh Q là những người được quyền quản lý phần đất có diện tích 2.063,9 m2 (ONT: 100m2; CLN 698,6m2; HL hồ 1050,9m HLATĐB 2,144 m2). Mặc dù, ông Q hiện nay đang có chung hộ khẩu với bà T nhưng không có quyền lợi liên quan trực tiếp đến quyền sử dụng đất. Ông Q bị hạn chế năng lực hành vi từ năm 17 tuổi nên thường xuyên bỏ nhà đi lang thang. Nay, anh P làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Q mất năng lực hành vi dân sự để cho anh P cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2019/DS-ST ngày 11 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đồng thời yêu cầu Tòa án công nhận anh P làm người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn Q trong thời gian ông Q mất năng lực hành vi dân sự.

Ngày 03-11-2021, anh P có đơn xin rút một phần yêu cầu. Cụ thể, anh P xin rút yêu cầu “yêu cầu Tòa án công nhận anh P làm người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn Q trong thời gian ông Q mất năng lực hành vi dân sự” các yêu cầu khác giữ nguyên. Tại Biên bản làm việc ngày 03-11-2021, anh P trình bày ý kiến xin rút một phần yêu cầu.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 25 tháng 10 năm 2021, trong quá trình giải quyết và tại phiên họp sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T trình bày:

Ông Nguyễn Văn Q là em ruột của bà T. Cha mẹ của bà là ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị Th đều đã chết. Cha mẹ của bà có 07 người con gồm: ông Nguyễn Văn S (đã chết), bà Nguyễn Thị M (đã chết), ông Nguyễn Văn C (đã chết), ông Nguyễn Văn Q, ông Nguyễn Văn M và bà T. Ông Q hiện nay đang sinh sống cùng với bà T tại xã C, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương. Bà T là người trực tiếp chăm sóc cho ông Q vì ông Q không được bình thường có biểu hiện của bệnh tâm thần. Nay, anh P làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Q mất năng lực hành vi dân sự thì bà T đồng ý.

Tại Biên bản xác minh ngày 11 tháng 10 năm 2021, của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tại trụ sở Công an xã Minh Tân, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xác định ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1955 hiện nay đã chết nhưng do vì tình hình dịch bệnh phức tạp nên chưa đăng ký khai tử theo quy định. Do đó, tòa án không đưa ông C tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đối với ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1958 cư trú tại ấp T, xã T, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương hiện không còn sinh sống tại địa phương nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông M.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên họp, căn cứ Điều 22 của Bộ luật Dân sự, đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của anh P, tuyên bố ông Q mất năng lực hành vi dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương nhận định:

[1] Yêu cầu của anh P là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 27 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Q có nơi cư trú tại ấp T, xã C, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét đơn yêu cầu của anh P yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với ông Q:

Trên cơ sở lời trình bày của anh P và qua xem xét công khai các tài liệu, chứng cứ tại phiên họp, xét thấy:

Theo Theo Giấy khám sức khỏe số 722/PKSKTT-VPYTW ngày 04 tháng 11 năm 2021 của Viện pháp y tâm thần trung ương Biên Hòa do anh P cung cấp (bút lục số 08 và số 09), kết luận ông Q có mất trí trong bệnh Alzheimer, khởi phát sớm (F00.0-TCD10).

Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 483/KL-VPYTW ngày 21 tháng 7 năm 2021 của Viện Pháp y Tâm thần Trung ương Biên Hòa (bút lục số 51), kết luận:

Về y học: ông Q bị bệnh tâm thần phân liệt thể di chứng (F20.5-ICD10).

Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Ông Q mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Như vậy, lời trình bày và yêu cầu của anh P là có cơ sở.

Ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu của anh P là phù hợp.

Căn cứ Điều 22 của Bộ luật Dân sự, Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của anh P, tuyên bố ông Q mất năng lực hành vi dân sự.

Ngày 03 tháng 11 năm 2021, anh P có đơn xin rút một phần yêu cầu. Cụ thể anh P xin rút “yêu cầu Tòa án công nhận anh P làm người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn Q trong thời gian ông Q mất năng lực hành vi dân sự”. Xét việc rút một phần yêu cầu của anh P là hoàn toàn tự nguyện nên chấp nhận.

[4 Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: anh P phải chịu lệ phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 6 và khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 361, Điều 366, Điều 370, Điều 371, Điều 372 và Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 22 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 6 và khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của anh Nguyễn Thanh P đối với ông Nguyễn Văn Q.

Tuyên bố ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1956; nơi cư trú: ấp T, xã C, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương mất năng lực hành vi dân sự.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: anh Nguyễn Thanh P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2016/0039349 ngày 30 tháng 3 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương. Anh Nguyễn Thanh P đã nộp xong lệ phí.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng có quyền kháng nghị quyết định này trong hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương có quyền kháng nghị trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ