- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Vũ Thị H xin ly hôn anh Nguyễn Văn Th"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Nguyên đơn chị Vũ Thị H và bị đơn anh Nguyễn Văn Th.
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN ND HUYỆN VĨNH LỘC TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 07 /2020/QĐST-HNGĐ | Vĩnh Lộc, ngày 25 tháng 02 năm 2020. |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƢƠNG SỰ
Căn cứ hồ sơ vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 134 /2019/TLST- HNGĐ, ngày 19 tháng 12 năm 2019 giữa.
Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H – Sinh năm: 1992.
Trú quán: Thôn 9, xã H, huyện V, tỉnh T.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Th – Sinh năm: 1987
Trú quán: Thôn 9, xã H, huyện V, tỉnh T.
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, 55, 57, 58, 59, 68, 69, 70, 71, 72, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 17 tháng 02 năm 2020.
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 17 tháng 02 năm 2020 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Nguyên đơn chị Vũ Thị H và bị đơn anh Nguyễn Văn Th.
2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
* Về hôn nhân: Chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Văn Th đều có ý kiến chung và cùng thống nhất: Vợ chồng thống nhất, thỏa thuận thuận tình ly hôn.
* Về con cái: Chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Văn Th đều có ý kiến chung và cùng thống nhất: Vợ chồng có 02 con chung tên là: Nguyễn Vũ Anh K – sinh ngày 25/01/2011 (giới tính: Nam) và NguyễnVũ Hà L – sinh ngày 30/5/2013 ( giới tính: Nữ). Hiện nay các cháu phát triển bình thường về thể lực và trí lực, không ốm đau bệnh tật gì.
Nay chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Văn Th đều có ý kiến chung thống nhất và theo nguyện vọng của cháu Nguyễn Vũ Anh K là: Giao cháu Nguyễn Vũ Anh K cho chị Vũ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi; Giao cháu NguyễnVũ Hà L cho anh Nguyễn Văn Th trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Văn Th đều thống nhất, thỏa thuận: Chưa bên nào phải có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Văn Th có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được phép ngăn cản anh, chị thực hiện quyền này và cả chị H, anh Th đều có quyền làm đơn yêu cầu bên kia cấp dưỡng tiền nuôi con chung và xin thay đổi quyền nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
* Về tài sản, công nợ và các nghĩa vụ khác: Chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Văn Th đều có ý kiến chung và cùng thống nhất: Vợ chồng chưa yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về phần tài sản, công nợ và các nghĩa vụ chung khác trong vụ án này.
* Về án phí: Chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Văn Th đều thống nhất, thỏa thuận: Chị Vũ Thị H chịu toàn bộ tiền án phí DS – HNGĐ sơ thẩm là 150.000 đồng nhưng hiện tại chị H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lộc, theo biên lai thu tiền số AA/2017/0002444, ngày 16 tháng 12 năm 2019. Vì vậy, chị H được nhận lại 150.000 đồng tiền đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Anh Nguyễn Văn Th không phải nộp tiền án phí DS – HNGĐ sơ thẩm.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát ND huyện Vĩnh Lộc; - Chi cục THA DS huyện Vĩnh Lộc; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - UBND xã H - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN Lê Thị Hƣơng Giang |