vanban.org

Quyết định 07/2020/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 16/01/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà V, tuyên bố ông T, sinh năm 1939; nơi cư trú cuối cùng tại Số 2347/52, đường Phạm Thế Hiển, phường Bình An (nay là Phường 6), Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, là chồng của bà V, là cha của các ông, bà: B, sinh năm 1961; C, sinh năm 1963; N, sinh năm 1966 và…

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, bà V không phải chịu. Hoàn lại cho bà V số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền số 0019360, ngày 04/04/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà V, tuyên bố ông T, sinh năm 1939; nơi cư trú cuối cùng tại Số 2347/52, đường Phạm Thế Hiển, phường Bình An (nay là Phường 6), Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, là chồng của bà V, là cha của các ông, bà: B, sinh năm 1961; C, sinh năm 1963; N, sinh năm 1966 và…
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
________________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07/2020/QĐST-DSQuận 8, ngày 16 tháng 01 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Bùi Thành Trung

Thư ký phiên họp: Bà Trần Thu Trang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Phan Tuyết Trinh- Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 192/2019/TLST-DS ngày 08/4/2019, về việc: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2020/QĐST-DS ngày 07 tháng 01 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà V, sinh năm 1940; Địa chỉ: đường M, Phường N, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông C, sinh năm 1963; Địa chỉ: Địa chỉ: đường M, Phường N, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Văn bản ủy quyền Số 3124/, Quyển số 01/2019-SCT/CK,ĐC ngày 08/8/2019, tại Ủy ban nhân dân Phường 6, Quận 8)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà B, sinh năm 1961; Địa chỉ: Địa chỉ: đường M, Phường N, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Ông C, sinh năm 1963; Địa chỉ: đường M, Phường N, Quận P, Thành

phố Hồ Chí Minh.

3/ Ông N, sinh năm 1966; Địa chỉ: đường M, Phường N, Quận P, Thành

phố Hồ Chí Minh.

4/ Ông H, sinh năm 1968; Địa chỉ: đường M, Phường N, Quận P, Thành

phố Hồ Chí Minh.

Các đương sự vắng mặt tại phiên họp.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 27/3/2019 và các bản khai, bà V trình bày: Bà V, sinh năm 1940 và ông T, sinh năm 1939 có đăng ký kết hôn theo Chứng thư hôn thú số hiệu 15 ngày 23/3/1959, tại Quận 7, Đô Thành Sài Gòn (Việt Nam Cộng Hòa). Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sinh sống tại địa chỉ Số 2347/52, đường Phạm Thế Hiển, phường Bình An (nay là Phường 6), Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh và có 04 người con chung, gồm các ông, bà: B, sinh năm 1961; C, sinh năm 1963; N, sinh năm 1966 và H, sinh năm 1968; Đến năm 1968, sau khi sinh trẻ H, ông T bỏ đi đâu không biết, bà V và các con đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm như đăng tin tìm kiếm trên Báo Tuổi trẻ vào các ngày 19/3/2019 (69/2019), 20/3/2019 (70/2019) và ngày 21/3/2019 (71/2019) nhưng vẫn không có tin tức xác thực về ông T còn sống hay đã chết. Do tuổi cao, sức yếu, và để bổ túc hồ sơ khi tiến hành các thủ tục hành chính với các cơ quan, tổ chức. Nay, bà V yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, tuyên bố ông T, sinh năm 1939 là đã chết; Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Số 2347/52, đường Phạm Thế Hiển, phường Bình An (nay là Phường 6), Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, bà V có đơn đề nghị miễn nộp lệ phí giải quyết việc dân sự và đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp. Người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan: gồm các ông, bà: B, sinh năm 1961; C, sinh năm 1963; N, sinh năm 1966 và H, sinh năm 1968, đều có lời khai thống nhất với lời trình bày của bà V và cùng có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp. Tại phiên họp, do đương sự vắng mặt, Chủ tọa công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu ý kiến về giải quyết việc dân sự: Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến phiên họp hôm nay thẩm phán, thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự khi tiến hành giải quyết việc dân sự. Bà V và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan B; C; N và H đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà V và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đảm bảo thủ tục theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điểm d Khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự, đề nghị tuyên bố ông T, sinh năm 1939 là đã chết, từ ngày 02/01/1974. Về lệ phí, bà V không phải chịu lệ phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 8 nhận định:

Về tố tụng: quyền yêu cầu, quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Bà V, sinh năm 1940 và ông T, sinh năm 1939 có đăng ký kết hôn theo Chứng thư hôn thú số hiệu 15 ngày 23/3/1959, tại Quận 7, Đô Thành Sài Gòn (Việt Nam Cộng Hòa). Do ông T biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống, có nơi cư trú cuối cùng tại Số 2347/52, đường Phạm Thế Hiển, phường Bình An (nay là Phường 6), Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ Khoản 4 Điều 27; Điểm a Khoản 2 Điều 35; Điểm b Khoản 2 Điều 39; Điều 391 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điểm d Khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đây là việc dân sự về “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”, nên bà V có quyền yêu cầu và Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết tuyên bố một người là đã chết đối với ông T.

Tại phiên họp, bà V và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các ông, bà B; C; N và H có đơn đề nghị vắng mặt. Sự vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết việc dân sự, và đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 đề nghị Tòa án vẫn tiến hành phiên họp. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.

Về nội dung yêu cầu:

Theo nội dung đơn yêu cầu, lời trình bày của người yêu cầu và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đủ căn cứ để xác định: ông T, sinh năm 1939, có nơi cư trú cuối cùng: Số 2347/52, đường Phạm Thế Hiển, phường Bình An (nay là Phường 6), Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh trước khi biệt tích vào năm 1968 (theo kết quả xác minh ngày 25/02/2019 của Công an Phường 6, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh).

Bên cạnh, bà V và các con của ông T đều có lời khai thống nhất về việc ông T đã biệt tích từ năm 1968, gia đình có đăng tin tìm kiếm ông T đã rời khỏi địa phương từ năm 1968 trên Báo Tuổi trẻ vào các ngày 19/3/2019 (69/2019), 20/3/2019 (70/2019) và ngày 21/3/2019 (71/2019) nhưng vẫn không có tin tức xác thực về ông T là còn sống. Căn cứ vào các lời khai của đương sự và các tài tiệu, chứng cứ bà V cung cấp, có thể xác định thời điểm có tin tức cuối cùng đối với ông T là vào năm 1968.

Do không xác định được ngày có tin tức cuối cùng mà chỉ xác định vào năm 1968 là thời điểm biết được tin tức cuối cùng của người bị tuyên bố là đã chết. Căn cứ Điểm d Khoản 1 Điều 71, Khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự, xác định thời điểm có tin tức cuối cùng về ông T là vào ngày 01/01/1969.

Sau khi thụ lý đơn yêu cầu của bà V, Tòa án nhân dân Quận 8 đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố một người là đã chết. Thông báo này đã được đăng, phát trên các phương tiện thông tin đại chúng, như đăng tin tìm kiếm trên Báo Lao động các ngày 05/9/2019, ngày 06/9/2019 và ngày 07/9/2019; nhắn tin tìm kiếm trên Đài tiếng nói Việt Nam (VOV1) phát sóng vào lúc 11 giờ 00 phút đến 12 giờ và phát lại vào lúc 17 giờ đến 18 giờ vào các ngày 16/9/2019, 17/9/2019 và 18/9/2019; và trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc ông T, sinh năm 1939 là còn sống. Như vậy, đủ cơ sở để xác định ông T đã biệt tích 05 (năm) năm liền trở lên tính từ ngày 01/01/1969 đến ngày bà V nộp đơn yêu cầu, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc ông T là còn sống, phù hợp với quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 71, Khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự, nên yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà V đối với ông T, sinh năm 1939 là có cơ sở để chấp nhận. [3] Về lệ phí dân sự sơ thẩm: 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), bà V phải chịu nhưng bà V là người cao tuổi (sinh năm 1940) và có đơn đề nghị miễn nộp lệ phí dân sự sơ thẩm là phù hợp quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 12 và Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nên Tòa án chấp nhận miễn nộp lệ phí dân sự sơ thẩm cho bà V. [4]. Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà V tuyên bố ông T là đã chết. Đề nghị này phù hợp với nhận định của Tòa án, nên chấp nhận. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Khoản 4 Điều 27, Điểm a Khoản 2 Điều 35, Điều 36, Điểm b Khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 150, Điều 361, Khoản 3 Điều 367, Điều 371, Điều 372, Điều 391, Điều 392 và Điều 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 68, Điểm d Khoản 1 Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 và Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Chấp nhận yêu cầu của bà V, tuyên bố ông T, sinh năm 1939; nơi cư trú cuối cùng tại Số 2347/52, đường Phạm Thế Hiển, phường Bình An (nay là Phường 6), Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, là chồng của bà V, là cha của các ông, bà: B, sinh năm 1961; C, sinh năm 1963; N, sinh năm 1966 và H, sinh năm 1968, đã chết từ ngày 02/01/1974. Các quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản của ông T được giải quyết như đối với người đã chết.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, bà V không phải chịu. Hoàn lại cho bà V số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền số 0019360, ngày 04/04/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Các ông, bà V, B, C, N, và H có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định này được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ