vanban.org

Quyết định 07/2020/QĐ-TA

TAND TX. Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 04/08/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Áp dụng: điều 6, điểm h khoản 1 điều 10, điều 95, khoản 1 điều 96, điểm a khoản 1 điều 103, điều 104, khoản 2 điều 105, điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; mục 2 khoản 1 và mục 1 khoản 1 điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ, sửa đổi bổ sung một số…

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối vớiTrịnh Xuân D. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi tư) tháng tại cơ sở cai nghiện ma túy số 1 Thanh Hóa, địa chỉ: thôn K, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Xuân D"
  • Tòa quyết gì? * Áp dụng: điều 6, điểm h khoản 1 điều 10, điều 95, khoản 1 điều 96, điểm a khoản 1 điều 103, điều 104, khoản 2 điều 105, điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; mục 2 khoản 1 và mục 1 khoản 1 điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ, sửa đổi bổ sung một số…
  • Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BỈM SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:07/2020/QĐ-TA

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Ngô Xuân Sang

2. Thư ký phiên họp: Ông Hoàng Văn Trung

Ngày 04 tháng 8 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn tiến hành phiên họp xem xét,quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số:07QĐ-TA ngày 30 tháng 7 năm 2020đối với:

Trịnh Xuân D – Sinh năm: 1991

CCCD số: 038091003575 Nơi cấp: Cục CSĐKQL cư trú và DLQG về dân cư; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 4/12; Nghề nghiệp: Không; Nơi cư trú: khu phố 7, phường B, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.; Con ông: Trịnh Xuân H và bà Nguyễn Thị C.

Nhân thân: Năm 2011 bị Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tiền sự:ngày 29/6/2020 bị công an phường Nam Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Đã áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường do nghiện ma túy.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã Bỉm Sơn:Phan Anh Dũng, chức vụ: chuyên viên phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã Bỉm Sơn (theo giấy ủy quyền số 38 ngày 04/8/2020của Trưởng phòng Lao động – Thương binh và xã hội thị xã Bỉm Sơn).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn:Bà Đỗ Thị Minh- Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Trịnh Xuân D; Sinh năm: 1991, là đối tượng nghiện chất ma túy từ năm 2006. D đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phường do nghiện ma túy theo Quyết định số 105/QĐ-UBND ngày 09/08/2018 của chủ tịch UBND phường B với thời gian là 06 tháng. Ngày 09/02/2019 UNBD phường B đã cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 230/GCN – UBND. Do D vẫn thường xuyên sử dụng chất ma túy. Theo kết quả xét nghiệm ngày 29/6/2020 tại Biên bản về việc xét nghiệm tìm chất ma túy ngày 29/6/2020, D dương tính với Hêrôin và D công nhận là đúng. Tại bản tự khai ngày 29/6/2020 D tự nhận bản thân vẫn thường xuyên sử dụng Hêrôin và ma túy đá, D khai thời điểm sử dụng ma túy lần cuối là ngày 29/6/2020.

Công an phường B lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện đối với Trịnh Xuân D gửi phòng Tư pháp thị xã Bỉm Sơn thẩm định và căn cứ kết quả đó phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã Bỉm Sơn đã có công văn số 33/CV- LĐTB&XH ngày 23/7/2020 chuyển hồ sơ và đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn xem xét áp dụng đưa Trịnh Xuân D vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 Thanh Hóa, địa chỉ: thôn K, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên họp hôm nay đại diện phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã Bỉm Sơn vẫn tiếp tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy số 1 Thanh Hóa đối với Trịnh Xuân D để D có thời gian cai nghiện, lao động và học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 24 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn có ý kiến đồng ý với đề nghị của phòng Lao động – Thương binh và xã hội UBND thị xã Bỉm Sơn về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Xuân Dương.

XÉT THẤY:

Trịnh Xuân D đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định. Đây là biện pháp xử lý hành chính nhằm giáo dục, quản lý D tại nơi cư trú mà không cần thiết phải cách ly D ra khỏi cộng đồng. Tuy nhiên,D không tự cai nghiện mà tự nhận bản thân nghiện ma túy, loại ma túy D sử dụng là HêrôinTheo kết quả xét nghiệm ngày 29/6/2020, D dương tính với Hêrôin. Công an phường B, thị xã Bỉm Sơn lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Xuân D là đúng với trình tự quy định tại điều 95, khoản 1 điều 96, điểm a khoản 1 điều 103, khoản 2 điều 105, điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm: Trịnh Xuân D là người nghiện ma túy, năm 2018. UBND phường B đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy; đã 2020 bị công an phường Nam Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Đã áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường do nghiện ma túy. D bị Tòa án xét xử hai lần về các tội “Trộm Cắp tài sản; Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do D không chịu tu chí cai nghiện mà vẫn tiếp tục sử dụng ma túy nên cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng quy định của pháp luật.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Trịnh Xuân D không có tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hành chính. Về nhân thân: Dươngđã nhiều năm nghiện ma túy, bản thân đã bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử phạt trách nhiệm hành chính nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện, sửa chữa lỗi lầm, quyết tâm cai nghiện để trở thành người công dân có ích cho xã hội mà tiếp tục sa vào con đường nghiện ngập, hút chích gây mất trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, cần xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Trịnh Xuân D vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để D có thời gian cai nghiện, lao động và học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết, đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Áp dụng: điều 6, điểm h khoản 1 điều 10, điều 95, khoản 1 điều 96, điểm a khoản 1 điều 103, điều 104, khoản 2 điều 105, điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; mục 2 khoản 1 và mục 1 khoản 1 điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ, sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; điều 7, điều 20, 30 và điều 31 Pháp lệnh trình tự thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối vớiTrịnh Xuân D.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi tư) tháng tại cơ sở cai nghiện ma túy số 1 Thanh Hóa, địa chỉ: thôn K, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trịnh Xuân D có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định hoặc Tòa án niêm yết quyết định.

Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thị xã Bỉm Sơn có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thị xã Bỉm Sơn phối hợp Công an thị xã Bỉm Sơn có trách nhiệm thi hành Quyết định này

Cỡ chữ