vanban.org

Quyết định 07/2020/QĐ-TA

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 27/04/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Đức T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi tư) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Cơ sở cai nghiện bắt buộc: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Nam Định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "XLHC"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Đức T.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07/2020/QĐ-TATP. N, ngày 27 tháng 4 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

ĐƢA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Lương Việt Bằng.

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thu Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định.

Ngày 27-4-2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính -Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 07/2020/QĐ-TA ngày 17 tháng 4 năm 2020 đối với:

Họ và tên: Trần Đức T, sinh năm 1971 tại: tỉnh Nam Định; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Số 11/29/55 đường Đ, phường H, thành phố N, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 4/10; Con ông Trần Đức C (đã chết) và bà Trần Thị V (đã chết); có vợ Lê Thị L và 02 con; Tiền án: Ngày 12-7-2018, bị Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Tiền sự: Không.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố N, tỉnh Nam Định: Bà Phạm Thị Hoa Xuân – Chuyên viên.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N: Bà Vũ Ngọc Thư - Kiểm sát viên.

(Tại phiên họp: Anh Trần Đức T vắng mặt không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N phát biểu quan điểm: Tòa án đã tiến hành niêm yết Thông báo về việc thụ lý hồ sơ và Quyết định mở phiên họp hợp lệ. Tại phiên họp, người bị đề nghị là anh Trần Đức T vắng mặt không có lý do, thuộc trường hợp quy định tại Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 13, khoản 8 Điều 1 Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24 tháng 12 năm 2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao do đó đề nghị Tòa án tiếp tục phiên họp vắng mặt anh Trần Đức T.

NHẬN THẤY:

Trần Đức T là đối tượng nghiện ma túy. Ngày 10-12-2019, Trần Đức T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an phường H, thành phố N xử phạt hành chính hình thức cảnh cáo. Ngày 06-01-2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường H, thành phố N ra Quyết định số 06/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 03 tháng từ ngày 06-01-2020 đến ngày 06-4-2020 đối với Trần Đức T. Ngày 14-01-2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường H, thành phố N ra Quyết định số 12/QĐ-UB về việc quản lý cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình và cộng đồng thời hạn 12 tháng từ ngày 14-01-2020 đến ngày 14-01-2021 đối với Trần Đức T. Ngày 28-02-2020, Trần Đức T tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an phường H, thành phố N bắt quả tang. Ngày 02-3-2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường H, thành phố N ra Quyết định số 31/QĐ-UBND về việc chấm dứt áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Trần Đức T. Ngày 03-3-2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường H, thành phố N ra Quyết định số 32/QĐ-UBND về việc chấm dứt thi hành biện pháp cai nghiện tại gia đình và cộng đồng đối với Trần Đức T. Ngày 06-3-2020, Trạm Y tế phường H, thành phố N có phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy, trong đó đã xác định Trần Đức T có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Heroine. Ủy ban nhân dân phường H, thành phố N đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trần Đức T.

Phòng Tư pháp thành phố N kết luận hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trần Đức T đã đảm bảo về tính pháp lý.

Sau khi thụ lý hồ sơ, Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý hồ sơ và Quyết định mở phiên họp cho anh Trần Đức T nhưng chị Lê Thị L là vợ và đang sinh sống cùng địa chỉ cư trú với anh T cùng ông Trần Kim T là tổ trưởng dân phố đã xác nhận hiện nay anh Trần Đức T vắng mặt tại nơi cư trú và không rõ thời điểm trở về. Tòa án đã lập biên bản về việc này và tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng nêu trên theo quy định của pháp luật.

* Tại phiên họp:

Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố N trình bày ý kiến nhận xét về Trần Đức T và đề nghị Tòa án nhân dân áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Đức T theo đúng quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N phát biểu quan điểm: Quá trình tố tụng, Tòa án nhân dân thành phố N đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 13. Đối tượng bị đề nghị, trình tự, thủ tục hồ sơ xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đảm bảo đúng quy định của pháp luật; đề nghị Tòa án nhân dân thành phố N chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố N về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Đức T thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

- Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành niêm yết Thông báo về việc thụ lý hồ sơ và Quyết định mở phiên họp hợp lệ theo quy định của khoản 3 Điều 16 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 13 và khoản 5, khoản 6 Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24 tháng 12 năm 2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đối với người bị đề nghị. Việc anh Trần Đức T vắng mặt không có lý do, thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 13 và khoản 8 Điều 1 Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24 tháng 12 năm 2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao do đó Tòa án tiến hành phiên họp áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vắng mặt đối với anh Trần Đức T là đúng quy định của pháp luật.

- Về người bị đề nghị: Trần Đức T là người đã thành niên, có đủ nhận thức để biết được tác hại của chất ma túy đối với sức khỏe con người và là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội nhưng vẫn sử dụng trái phép chất ma túy. Chính quyền địa phương đã phải áp dụng biện pháp giáo dục tại xã/phường đối với Trần Đức T trong thời hạn 03 tháng từ ngày 06-01-2020 đến ngày 06-4-2020 và Quyết định số 12/QĐ-UB về việc quản lý cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình và cộng đồng thời hạn 12 tháng từ ngày 14-01-2020 đến ngày 14-01-2021 nhằm giúp đỡ T cai nghiện để tái hòa nhập cộng đồng trở thành người công dân lương thiện trong xã hội. Tuy nhiên trong thời gian này Trần Đức T vẫn không tiến bộ, tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến cộng đồng do đó việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để tạo điều kiện cho Trần Đức T có thời gian chữa bệnh, lao động và học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện để trở thành người công dân lương thiện hòa nhập với đời sống xã hội là cần thiết và đúng với quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ, căn cứ kết quả phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố N xét thấy đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố N là có căn cứ. Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Đức T đã đảm bảo đúng điều kiện, trình tự, thủ tục theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Trần Đức T tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 9, nhưng phải chịu tình tiết tăng nặng vi phạm trong thời gian đang chấp hành biện pháp giáo dục tại phường theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ quy định tại Điều 5, điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 3, Điều 19, Điều 22, Điều 23, Điều 29, Điều 30, Điều 31 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 13; khoản 5, khoản 6 Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24 tháng 12 năm 2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Đức T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi tư) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cơ sở cai nghiện bắt buộc: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Nam Định.

3. Anh Trần Đức T có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội thành phố N có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành Quyết định: Công an thành phố N chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội thành phố N đưa người đi thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ