- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "“Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”, giữa nguyên đơn bà M với bị đơn ông N cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà P"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn của bị đơn ông N đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2019/DS-ST ngày 26/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Sóc Trăng.
- Căn cứ chính? Điều 275 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 07/2020/QĐ-PT | Sóc Trăng, ngày 11 tháng 3 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
KHÔNG CHẤP NHẬN VIỆC KHÁNG CÁO QUÁ HẠN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
Với Hội đồng xét kháng cáo quá hạn gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Võ Hoàng Anh.
- Các Thẩm phán:
Ông Hồ Văn Phụng.
Ông Nguyễn Hoàng Thành.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Sạch - Kiểm sát viên.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/12/2019 bị đơn ông N gửi đơn kháng cáo quá hạn (đơn đề ngày 30/12/2019) theo đường dịch vụ bưu chính cho Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Sóc Trăng để kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2019/DS-ST ngày 26/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Sóc Trăng, với nội dung: Ông yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng giải quyết sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà M.
XÉT THẤY:
Việc kháng cáo của ông N là quá thời hạn quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc kháng cáo quá hạn: Qua xem xét tài liệu chứng minh cho việc kháng cáo quá hạn có trong hồ sơ, thể hiện vào lúc 13 giờ 45 phút ngày 26/11/2019 Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Sóc Trăng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”, giữa nguyên đơn bà M với bị đơn ông N cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà P và tuyên án cùng ngày 26/11/2019. Ông N vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm. Sau khi xét xử sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện việc cấp, tống đạt bản án sơ thẩm cho ông N bằng phương thức niêm yết văn bản tố tụng vào ngày 05/12/2019 là trong thời hạn 10 ngày phát hành bản án sơ thẩm cho đương sự theo quy định của pháp luật. Việc niêm yết bản án sơ thẩm đối với ông N được tiến hành vào ngày 05/12/2019 nên tính đến hết ngày 20/12/2019 là hết thời hạn kháng cáo, nhưng mãi đến ngày 30/12/2019 ông N mới nộp đơn kháng cáo là trễ hạn 10 ngày so với quy định của pháp luật.
Theo nội dung Bản tường trình về lý do kháng cáo quá hạn đề ngày 14/01/2019, ông N cho rằng: Ông vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm ngày 26/11/2019, đến ngày 05/12/2019 Tòa án cấp sơ thẩm đến nhà ông để giao bản án sơ thẩm cho ông nhưng khi đó ông không có mặt ở nhà do đi Đồng Nai có công việc làm ăn, vợ ông thì không nhận bản án cho ông, từ đó Tòa án cấp sơ thẩm niêm yết bản án sơ thẩm đối với ông vào ngày 05/12/2019, gia đình ông cũng không ai cho ông biết. Sau khi ông về, đến ngày 19/12/2019 ông mới nhận được bản án sơ thẩm nhưng đến ngày 30/12/2019 ông kháng cáo thì thời hạn theo quy định của pháp luật không còn. Do ông không hiểu biết pháp luật và đi làm ăn xa nên ông không hay biết việc Tòa án cấp sơ thẩm niêm yết bản án sơ thẩm đối với ông.
Sau khi nhận được đơn kháng cáo của ông N nộp quá thời hạn kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì lẽ ra Tòa án cấp sơ thẩm phải ra văn bản yêu cầu ông N tường trình cụ thể bằng văn bản về lý do kháng cáo quá hạn và xuất trình tài liệu, chứng cứ (nếu có) để chứng minh cho lý do nộp đơn kháng cáo quá hạn là chính đáng trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ông N nhận được văn bản yêu cầu của Tòa án cấp sơ thẩm, theo tinh thần hướng dẫn tại khoản 1 Điều 6 của Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Việc Tòa án cấp sơ thẩm ra văn bản yêu cầu ông N bổ sung đơn kháng cáo là không đúng, vì việc yêu cầu đương sự sửa đổi, bổ sung đơn kháng cáo chỉ áp dụng đối với trường hợp đơn kháng cáo chưa đúng về mặt hình thức hoặc về mặt nội dung theo quy định tại Điều 272 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chứ không áp dụng đối với trường hợp đơn kháng cáo quá hạn. Trường hợp giả sử ông N không có văn bản tường trình lý do nộp đơn kháng cáo quá hạn cũng như không xuất trình tài liệu, chứng cứ (nếu có) thì Tòa án cấp sơ thẩm vẫn phải gửi hồ sơ kháng cáo quá hạn đến Tòa án cấp phúc thẩm để xét kháng cáo quá hạn, vì việc tường trình lý do kháng cáo quá hạn và xuất trình tài liệu, chứng cứ chứng minh là quyền của ông N, chứ Tòa án cấp sơ thẩm không có quyền xác định trường hợp này là ông N từ bỏ việc kháng cáo (theo nội dung Thông báo về việc bổ sung đơn kháng cáo số 02/TB-TA, ngày 06/01/2020 tại Bút lục số 20). Do hồ sơ kháng cáo quá hạn của ông N cũng đã được chuyển đến để Tòa án cấp phúc thẩm để xem xét nên Hội đồng xét kháng cáo quá hạn chỉ nêu lên sai sót trên để Tòa án cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm.
Xét kháng cáo quá hạn của ông N thấy rằng, việc Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện việc cấp, tống đạt bản án sơ thẩm cho ông N bằng phương thức niêm yết văn bản tố tụng vào ngày 05/12/2019 mà không gửi bản án sơ thẩm trực tiếp cho ông N nhận là do ông N không có mặt ở nơi cư trú và người nhà của ông N không đồng ý nhận thay bản án sơ thẩm cho ông N; chính ông N cũng thừa nhận trong Bản tường trình về lý do kháng cáo quá hạn đề ngày 14/01/2019 là ông đi làm ăn ở Đồng Nai (tại phiên họp thì ông N cho rằng là ông đi làm ăn ở Bình Dương) không có mặt ở nơi cư trú và vợ ông không dám nhận bản án sơ thẩm thay cho ông vì trước khi đi ông có căn dặn vợ ông là không được nhận thay cho ông bất kỳ văn bản nào của Tòa án cấp sơ thẩm; khi ông N đi Bình Dương làm ăn thì ông N cũng không cung cấp địa chỉ cho Tòa án cấp sơ thẩm biết trong khi đây là nghĩa vụ của ông N; do đó, Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện việc niêm yết bản án sơ thẩm đối với ông N là đúng theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Còn về việc ông N cho rằng ông kháng cáo quá hạn là do ông không hiểu biết pháp luật và đi làm ăn xa nên ông không hay biết việc Tòa án cấp sơ thẩm niêm yết bản án sơ thẩm đối với ông là không có căn cứ để chấp nhận, vì đây không phải là lý do chính đáng (là trường hợp do thiên tai, lũ lụt; do ốm đau, tai nạn phải điều trị tại bệnh viện,...) theo tinh thần hướng dẫn tại Điều 6 của Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Từ những phân tích nêu trên, lý do kháng cáo quá hạn mà ông N đưa ra là không chính đáng, nên không được Hội đồng xét kháng cáo quá hạn chấp nhận.
Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét kháng cáo quá hạn kể từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp và tại phiên họp, phát biểu về nội dung kháng cáo quá hạn và cho rằng lý do kháng cáo quá hạn mà ông N đưa ra là không chính đáng nên đề nghị Hội đồng xét kháng cáo quá hạn không chấp nhận. Xét đề nghị này của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng là có căn cứ như nhận định nêu trên.
Căn cứ vào Điều 275 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn của bị đơn ông N đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2019/DS-ST ngày 26/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Sóc Trăng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT KHÁNG CÁO QUÁ HẠN
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - TAND huyện A (01); - VKSND tỉnh Sóc Trăng (01); - Ông N (01); - Lưu hồ sơ vụ án, VP (02). | Võ Hoàng Anh |