- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Nhị- Nhữ Thanh Bình"
- Tòa quyết gì? Áp dụng các quy định:
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN ND TP THÁI NGUYÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Án số: 07/2020/HNGĐ-ST Ngày: 28/02/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN- TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thúy Kiên;
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trần Trọng Tú;
Ông Phạm Đức Long;
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Anh- Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên: Không tham gia;
Ngày 28/02/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số:1010/2019/TLST- HN GĐ ngày 23/12/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/QĐXXST-HN GĐ ngày 31/01/2020, giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Chị Lê Thị Nh, sinh năm 1985; ĐKHK: Tổ 9 (tổ 37 cũ), phường H, thành phố Thái Nguyên;
Nơi ở: Tổ 9 ( tổ 42 cũ), phường H, TP Thái Nguyên;
(Có đơn xin vắng mặt)
+ Bị đơn:Anh Nhữ Thanh B, sinh năm 1979;
ĐKHK và ở: Tổ 9 (tổ 37 cũ), phường H, thành phố Thái Nguyên;
(Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2, không có lý do);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện,bản tự khai và các văn bản khác chị Lê Thị Nh là nguyên đơn trình bày:
Chị Nh kết hôn với B vào tháng 9 năm 2014, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phốThái Nguyên trên cơ sở tự nguyện.Quá trình chung sống có 01 con chung là Nhữ Thị Mai T, sinh ngày 23/6/2016. Do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra bất hòa. Anh B không có trách nhiệm với gia đình và còn ham chơi lô đề dẫn đến nợ không có khả năng thanh toán, thường xuyên bị các đối tượng xã hội đen đến nhà đòi nợ. Chị Nh đã kiên trì góp ý nhưng anh B không tiếp thu, do đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng, chị Nh phải về bên ngoại ở từ tháng 02/2018 đến nay, vợ chồng cũng sống ly thân từ đó không còn quan tâm đến nhau. Nay chị Nh xác định tình trạng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và yêu cầu được ly hôn anh B.
Về con chung:Trong thời gian sống ly thân chị Nh trực tiếp nuôi con. Sau khi ly hôn chị Nh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con, không yêu cầu anh B cấp dưỡng .
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nh không yêu cầu Tòa giải quyết;
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các Văn bản tố tụng cho các đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS), nhưng anh B không có văn bản thể hiện ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị Nh, không tham gia các thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên thụ lý, giải quyết đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nh là đúng thẩm quyền.
Hành vi, quyết định tố tụng của Người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTDS. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Chị Nh có đơn xin xét xử vắng mặt, anh B vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả người tham gia tố tụng trong vụ án theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 238 của BLTTDS;
Về nội dung:Chị Nh đã thực hiện nghĩa vụ chứng minh yêu cầu khởi kiện của chị Nh là có căn cứ và hợp pháp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
1.Về quan hệ hôn nhân:Chị Lê Thị Nh và anh Nhữ Thanh B kết hôn tháng 12 năm 2014, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phốThái Nguyên trên cơ sở tự nguyện. Các đương sự đã tuân thủ đầy đủ các quy định về kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình, do đó có đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa các đương sự là hợp pháp.
Lời khai của chị Nh như nêu trên về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng các đương sự, phù hợp với nội dung xác nhận của Chính quyền địa phương nơi các đương sự cư trú về vấn đề này, do đó có đủ cơ sở xác định tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nh và anh B đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn sự gắn kết. Mặt khác, việc anh B không tham gia hòa giải và vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giaỉ quyết vụ án, cho thấy anh B không thiện trí khắc phục mâu thuẫn vợ chồng. Do đó việc duy trì quan hệ hôn nhân không mang lại hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nh để giải phóng cho các đương sự, tạo điều kiện cho các đương sự ổn định cuộc sống. Như vậy là phù hợp với thực tế và quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
2. Về con chung: Quá trình chung sống các đương sự có 01 con chung chưa thành niên như chị Nh khai nêu trên. Xét thấy cha và mẹ đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chưa thành niên.Việc giao trách nhiệm cho người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cần đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con. Hội đồng xét xử xét thấy chị Nh đang trực tiếp nuôi dưỡng con, do đó cháu T có sự gắn bó về tình cảm với mẹ. Mặt khác cần tạo điều kiện cho cháu T ổn định mọi mặt, sau khi ly hôn giao cho chị Nh trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi tròn 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh B thực hiện quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định. Chị Nh không yêu cầu Tòa án giải quyết cấp dưỡng nuôi con, do do đó Hội đồng xét xử không giải quyết vấn đề này.
Như vậy là phù hợp với thực tế, đảm bảo quyền lợi cho con sau khi cha mẹ ly hôn theo quy định tại Điều 58, 81,82,83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nh không yêu cầu Tòa án giải quyết;
4.Về án phí: Chị Nh phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định;
5.Về quyền kháng cáo:Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; Điều 272; Điều 273 của BLTTDS;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các quy định:
- Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điểm a, điểm b khoản 1 Điều 238 của BLTTDS;
- Điều 51, 56, 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Khoản 1 Điều 146; Khoản 4 Điều 147 của BLTTDS; Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Điều 271; Điều 272; Điều 273 của BLTTDS;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Nh;
1.Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nh được ly hôn anh Nhữ Thanh B;
2.Về con chung: Giao cho chị Nh trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nhữ Thị Mai T, sinh ngày 23/02/2016 đến khi tròn 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh B đi lại thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định;
Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử không giải quyết (do nguyên đơn không yêu cầu- nếu có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác);
3.Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nh không yêu cầu, do đo Hội đồng xét xử không giải quyết (nếu đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác).
4.Về án phí:Thu của chị Nh 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm (chuyển từ Tiền tạm ứng án phí sang - theo Biên lai thu số 0002533 ngày 20/12/2019 do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên lập) để nộp vào Ngân sách nhà nước.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết/.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TN; - VKSND TPTN; -THADSTPTN; -UBND p.H, TP Thái Nguyên; - Đương sự - Lưu HS HỘI THẨM NHÂN DÂN | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thúy Kiên THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thúy Kiên |