vanban.org

Quyết định 07/2019/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật của anh Lù A T và chị Cứ Thị P

Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Lù A T và chị Cứ Thị P. Hủy giấy chứng nhận kết hôn số 01, quyển số 01, ngày 07/02/2012 của Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "T-P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật của anh Lù A T và chị Cứ Thị P
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình
TAND HUYỆN TAM ĐƯỜNG
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07/2019/QĐST - HNGĐTam Đường, ngày 04 tháng 10 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Dương Thanh Bắc

Thư ký phiên họp: Bà Hồ Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân thành huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường tham gia phiên họp: Bà Bùi Thị Tính – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân và gia đình thụ lý số 07/2019/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2019, về việc: Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 07/2019/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 9 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình:

+ Anh Lù A T, sinh năm 1997. Địa chỉ: Bản S, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu (có mặt)

+ Chị Cứ Thị PLa, sinh năm 1993. Địa chỉ: Bản S, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu (có mặt)

- Những người tham gia tố tụng khác: Không

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu ngày 29 tháng 8 năm 2019 của anh Lù A T và chị Cứ Thị P, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên họp người yêu cầu anh Lù A T và chị Cứ Thị P trình bày: Anh Lù A T và chị Cứ Thị P kết hôn ngày 07 tháng 02 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu, kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Tại thời điểm anh L, chị P làm thủ tục đăng ký kết hôn khi đó Lù A T, sinh ngày 03/10/1997 chưa đủ tuổi kết hôn và đã làm bản tự khai đăng ký kết hôn khai Lù A T sinh ngày 03/10/1993 để đủ tuổi làm thủ tục đăng ký kết hôn, nên UBND xã K đã làm thủ tục đăng ký kết hôn và cấp giấy chứng nhận kết hôn cho anh Lù A T, sinh 03/10/1993, vợ là Cứ Thị P sinh ngày 01/01/1993, vào sổ số 01, quyển số 01 ngày 07 tháng 02 năm 2012. Sau khi kết hôn anh T, chị P chung sống hạnh phúc cho đến tận bây giờ và không có bất kì mâu thuẫn gì. Tuy nhiên, hiện nay trong sổ hộ khẩu gia đình, trích lục khai sinh, giấy chứng minh nhân dân, bản sao bằng tốt nghiệp THCS của Lù A T thì đều ghi Lù A T sinh ngày 03/10/1997, còn giấy khai sinh của các con Lù A T1, Lù A C thì họ tên cha là Lù A T đều ghi sinh năm 1993, giấy khai sinh của Lù A G lại ghi họ tên cha là Lù A T sinh năm 1994 không khớp với giấy chứng nhận kết hôn ghi Lù A T sinh ngày 03/10/1993. Và trên thực tế Lù A T sinh ngày 03/10/1997.

Nay nhận thấy việc kết hôn trước đây của anh T, chị P là vi phạm quy định về điều kiện kết hôn nên anh T, chị P đề nghị Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật, đồng thời đề nghị Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân cho anh T, chị P kể từ ngày anh T đủ tuổi kết hôn.

Về con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về chia tài sản: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Lù A T, chị Cứ Thị P đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; điểm a khoản 1 Điều 8, Điều 10, Điều 11, Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

- Chấp nhận yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật của anh Lù A T và chị Cứ Thị P

- Công nhận quan hệ hôn nhân của anh Lù A T và chị Cứ Thị P kể từ ngày 03/10/2017

- Hủy giấy chứng nhận kết hôn số 01 quyển số 01 ngày 07 tháng 02 năm 2012 của Ủy ban nhân dân xã K

- Về con chung: Anh Lù A T và chị Cứ Thị P không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

- Về chia tài sản: Anh Lù A T và chị Cứ Thị P không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

- Về lệ phí: Anh Lù A T và chị Cứ Thị P là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn lệ phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân và gia đình được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện T nhận định:

Về trình tự, thủ tục tố tụng: Đây là yêu cầu về hôn nhân và gia đinh, người yêu cầu anh Lù A T và chị Cứ Thị P có hộ khẩu thường trú tại Bản S, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu, căn cứ vào khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì việc hôn nhân và gia đình đã thụ lý thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu.

Về nội dung:

Xét yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật của người yêu cầu: anh Lù A T và chị Cứ Thị P đăng ký kết hôn ngày 07 tháng 02 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu, kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Tại thời điểm anh T, chị P làm thủ tục đăng ký kết hôn khi đó anh Lù A T, sinh ngày 03/10/1997, chưa đủ độ tuổi kết hôn theo quy định (anh Lù A T mới 14 tuổi 04 tháng 04 ngày). Như vậy việc đăng ký kết hôn của anh Lù A T và chị Cứ Thị P tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, nay anh T, chị P yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật là có căn cứ, cần được chấp nhận.

Xét yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân của anh Lù A T và chị Cứ Thị P kể từ thời điểm anh T đủ tuổi kết hôn: Tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu, anh Lù A T và chị Cứ Thị P đã đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (anh Lù A T đã đủ độ tuổi kết hôn kể từ ngày 03/10/2017), hơn nữa sau khi kết hôn anh Lù A T, chị Cứ Thị P chung sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì và anh T, chị P đều yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân kể từ thời điểm anh T đủ tuổi kết hôn là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần được chấp nhận.

Về con chung: Anh T, chị P không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Về chia tài sản: Anh T, chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Về kiến nghị: Kiến nghị Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu thực hiện việc ghi vào sổ hộ tịch quyết định của Tòa án về việc hủy việc kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Lù A T và chị Cứ Thị P theo quy định của pháp luật.

Về lệ phí sơ thẩm: Anh Lù A T và chị Cứ Thị P là người dân tộc thểu số gia đình thuộc bản, xã 135 giai đoạn II, III vùng đặc biệt khó khăn của huyện T, tỉnh Lai Châu, căn cứ Điều 12, Điều 16 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, anh Lù A T, chị Cứ Thị P được miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân và gia đình.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; điểm a khoản 1 Điều 8, Điều 10, Điều 11, Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 12, Điều 16 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

1. Chấp nhận yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật của anh Lù A T và chị Cứ Thị P

Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Lù A T và chị Cứ Thị P.

Hủy giấy chứng nhận kết hôn số 01, quyển số 01, ngày 07/02/2012 của Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu.

Công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Lù A T và chị Cứ Thị P kể từ ngày 03/10/2017.

2. Kiến nghị Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu thực hiện việc ghi vào sổ hộ tịch quyết định của Tòa án về việc hủy việc kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Lù A T và chị Cứ Thị P theo quy định của pháp luật.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân và gia đình: Anh Lù A T và chị Cứ Thị P được miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân và gia đình.

4. Quyền kháng cáo: Anh Lù A T và chị Cứ Thị P có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ