- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Tuyên bố một người là đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Đào Văn N về việc yêu cầu tuyên bố bà Đào Thị D là đã chết.
- Căn cứ chính? Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 07/2017/QĐDS-ST Ngày: 20/9/2017 V/v Tuyên bố một người là đã chết |
NNHHÂÂNN DDAANNHH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Việt Hưng - Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Bùi Thị Thùy Ninh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 94/2016/TLST-DS ngày 05 tháng 12 năm 2016 về yêu cầu Tuyên bố một người là đã chết theo Quyết định mở phiên họp số 94/QĐ-VDS ngày 08/9/2017.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Đào Văn N, sinh ngày 01/03/1955; trú tại: tổ dân phố R, phường B, quận H, thành phố Hà Nội. Có mặt.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị M, sinh ngày 01/8/1953; trú tại: tổ dân phố R, phường B, quận H, thành phố Hà Nội.
- Bà Nguyễn Thị S, sinh ngày 01/01/1949; trú tại: thôn P, xã P, huyện C, thành phố Hà Nội.
- Bà Đào Thị M, sinh ngày 06/7/1967; trú tại: tổ dân phố 18, thôn Bãi, phường Đồng Mai, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
- Bà Nguyễn Thị L, sinh ngày 05/7/1963; trú tại: tổ dân phố G, phường B, quận H, thành phố Hà Nội.
- Ông Đào Văn N, sinh ngày 02/5/1961; trú tại: tổ dân phố R, phường B, quận H, thành phố Hà Nội.
Đều ủy quyền cho ông Đào Văn N (văn bản ủy quyền ngày 15/8/2017).
- Bà Nguyễn Thị Lịch, sinh năm 1958; trú tại: tổ dân phố R, phường B, quận H, thành phố Hà Nội.
- Anh Đào Văn Đúp, sinh năm 1977; trú tại: tổ dân phố R, phường B, quận H, thành phố Hà Nội.
- Chị Đào Thị Lan, sinh năm 1980; trú tại: Đội 11, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Chị Đào Thị Liễu, sinh năm 1983; trú tại: tổ dân phố X, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội.
- Anh Đào Văn Thêm, sinh năm 1989; trú tại: tổ dân phố R, phường B, quận H, thành phố Hà Nội.
(Đều có đơn xin vắng mặt).
3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Yêu cầu tuyên bố bà Đào Thị D, sinh năm 1970; nơi cư trú cuối cùng: tổ dân phố R, phường B, quận H, thành phố Hà Nội là đã chết.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp. Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội nhận định:
Theo đơn yêu cầu và trình bày của ông Đào Văn N thể hiện: Vợ chồng cụ Đào Văn L và Nguyễn Thị T sinh được 08 người con là ông Đào Văn P, ông Đào Văn N, bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị S, bà Đào Thị M, bà Nguyễn Thị L, ông Đào Văn N và bà Đào Thị D. Hiện nay cụ Đào Văn L, cụ Nguyễn Thị T và ông Đào Văn P đều đã chết. Ông P có vợ là bà Nguyễn Thị Lịch và 04 người con là anh Đào Văn Đ, chị Đào Thị L, chị Đào Thị L1 và anh Đào Văn T.
Bà Đào Thị D, sinh năm 1970 là em út trong gia đình. Trước đây bà D sống cùng bố mẹ và gia đình tại thôn R, xã B, huyện T, tỉnh Hà Tây (nay là tổ dân phố R, phường B, quận H, thành phố Hà Nội). Từ năm 1996, bà Đào Thị D bỏ nhà đi khỏi nơi cư trú, từ đó đến nay không liên lạc gì với gia đình. Gia đình đã báo với chính quyền địa phương và tìm kiếm nhiều nơi nhưng vẫn không có tin tức của bà D. Trước khi đi khỏi địa phương, bà D chưa có chồng, con. Do bà D đã biệt tích nhiều năm liền nên ông N yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Đào Thị D là đã chết.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng đều trình bày: Bà Đào Thị D bỏ nhà đi khỏi nơi cư trú từ năm 1996 đến nay không có tin tức gì đúng như trình bày của ông Đào Văn N.
Sau khi thụ lý vụ việc, Tòa án nhân dân quận Hà Đông đã tiến hành các thủ tục đăng, phát Thông báo tìm kiếm thông tin về bà Đào Thị D trên Báo Công lý, Đài tiếng nói Việt Nam và Cổng thông tin điện tử của Tòa án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát Thông báo tìm kiếm thông tin về bà Đào Thị D của Tòa án và cho đến ngày mở phiên họp vẫn không có tin tức gì của bà Đào Thị D.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết việc dân sự: Bà Đào Thị D bỏ nhà đi từ năm 1996 đến nay, gia đình đã trình báo chính quyền địa phương và tìm kiếm ở nhiều nơi nhưng không có tin tức. Quá trình giải quyết, ông N đã thực hiện thủ tục đăng thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật, nhưng hết 04 tháng vẫn không có tin tức gì của bà D. Ủy ban nhân dân phường Biên Giang cũng xác nhận bà D bỏ nhà đi từ năm 1996. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có bản tự khai yêu cầu tòa án tuyên bố bà D là đã chết. Do vậy, ông N yêu cầu Tòa án tuyên bố bà D là đã chết là có căn cứ, cần được chấp nhận.
Nhận định của Tòa án: Xét thấy, kể từ thời điểm bà Đào Thị D biệt tích đến nay đã hơn 21 năm và không có tin tức xác thực là còn sống. Do vậy, căn cứ điểm d khoản 1 Điều 81 và khoản 1 Điều 82 của Bộ luật dân sự năm 2005, chấp nhận yêu cầu của ông Đào Văn N, tuyên bố bà Đào Thị D đã chết vào ngày 01/01/2002. Khi quyết định của Tòa án tuyên bố bà Đào Thị D đã chết có hiệu lực pháp luật, thì các quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản của bà Đào Thị D được giải quyết như đối với người đã chết.
Người yêu cầu phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 371; Điều 372; Điều 393 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm d khoản 1 Điều 81; khoản 1 Điều 82 của Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 39 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Đào Văn N về việc yêu cầu tuyên bố bà Đào Thị D là đã chết.
2. Tuyên bố bà Đào Thị D, sinh năm 1970; nơi cư trú cuối cùng: tổ dân phố R, phường B, quận H, thành phố Hà Nội đã chết vào ngày 01/01/2002.
Khi quyết định này của Tòa án nhân dân quận Hà Đông có hiệu lực pháp luật, thì các quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản của bà Đào Thị D được giải quyết như đối với người đã chết.
3. Về lệ phí: Ông Đào Văn N phải nộp 200.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự (được đối trừ số tiền 200.000 đồng tạm ứng lệ phí ông N đã nộp theo biên lai số 0002945 ngày 05/12/2016 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội).
4. Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, phường nơi cư trú.
| Nơi nhận: - VKSND quận Hà Đông; - Chi cục THA dân sự quận Hà Đông; - UBND phường Biên Giang, quận Hà Đông; - Các đương sự - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Việt Hưng |