- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN PHƯỚC TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 07/2017/QĐ-TA | Tiên Phước, ngày 29 tháng 8 năm 2017 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN PHƯỚC, TỈNH QUẢNG NAM
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Lê Trung Thành
2. Thư ký phiên họp: Ông Võ Kim Thắng.
Ngày 29 tháng 8 năm 2017, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Nam Đ a ch Th n 03, S, huy n H, t nh Qu ng Nam), Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 07/2017/QĐ-TA ngày 21 tháng 8 năm 2017 đối với:
Họ và tên: Phạm Văn T, sinh năm 1995. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: không. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 4, xã M, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định. Con ông Phạm Văn T và bà Võ Thị C (Chết).
Tiền án, tiền sự: Không
Anh T có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Mai Minh Nguyệt - Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh Quảng Nam.
Ông Mai Minh Nguyệt ủy quyền cho ông Huỳnh Ngọc Nam - Phó Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh Quảng Nam theo Giấy ủy quyền lập ngày 23/8/2017.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Phước: ông Đặng Tuấn Vũ, chức vụ: Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 11/7/2017, Phạm Văn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 12/7/2017, Công an huyện T kiểm tra phát hiện nghi vấn đối tượng sử dụng ma tuý và tiến hành lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, biên bản vi phạm hành chính đối với T. Sau đó, Công an huyện T tiếp tục lập hồ sơ để áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T trình bày quan điểm: Phạm Văn T là thanh niên đã trưởng thành, T không chọn lối sống lành mạnh lại sa vào tệ nạn nghiện ngập ma túy. Theo kết quả phiếu xác minh tình trạng cư trú thì Phạm Văn T thường xuyên vắng mặt tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, không có nơi cư trú ổn định. Vì vậy, Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội huyện T đề nghị Tòa án căn cứ Luật xử lý vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để Phạm Văn T có điều kiện cai nghiện ma túy.
Người bị đề nghị Phạm Văn T trình bày: Mặc dù biết tác hại của ma túy nhưng bản thân không vượt qua được sự cám dỗ của chất gây nghiện này nên T đã sử dụng và hiện nay đã nghiện ma túy. Nay Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội huyện T đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì Phạm Văn T đồng ý và sẽ cố gắng cai nghiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Phước tham gia phiên họp phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước đã tuân thủ theo đúng quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân về việc thụ lý hồ sơ, ra quyết định mở phiên họp và trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp đảm bảo cho người tham gia phiên họp thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và diễn biến phiên họp đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T về việc đưa Phạm văn T vào “ Cơ sở cai nghi n bắt buộc”.
Sau khi em ét hồ sơ, ý kiến của cơ quan đề ngh , người b đề ngh và ý kiến của đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n Tiên Phước, t nh Qu ng Nam;
XÉT THẤY:
Ngày 11/7/2017, Phạm Văn T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị Công an huyện Tlập biên bản vi phạm hành chính. Tại “Biên bản thử Test phát hiện sử dụng ma túy” cũng như “Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy” thể hiện Phạm Văn T có sử dụng và nghiện ma túy, loại heroin. Tại biên bản ghi lời khai và bản tường trình, T thừa nhận bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2012 đến nay, mỗi ngày sử dụng 02 lần.
Theo xác nhận của Công an xã M, huyện T tại “Phiếu xác minh tình trạng cư trú” và “Biên bản ghi lời khai” của bà Nguyễn Thị Y (Chị dâu của T) thể hiện: Phạm Văn T thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú, không xác định được hiện nay T tạm trú ở đâu, làm gì. Như vậy, có đủ cở sở xác định Phạm Văn T, sinh năm 1995, nghiện ma túy. Mặc dù chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng T không có nơi cư trú ổn định nên thuộc đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (gọi tắt là Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013) và Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013.
Về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Ngày 11/7/2017 Phạm Văn T sử dụng ma túy lần cuối, ngày 29/8/2017 Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước mở phiên họp xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T là đảm bảo thời hiệu quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 4 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013.
Về thẩm quyền lập hồ sơ, trình tự, thủ tục lập hồ sơ: đảm bảo quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét tính chất, mức độ do hành vi vi phạm của Phạm Văn T, thì thấy: Ma túy là loại độc dược gây nghiện, việc sử dụng trái phép loại chất này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất, tinh thần và thậm chí tính mạng của người sử dụng, là nguyên nhân gây ra tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Phạm Văn T biết rõ điều này nhưng trước sự cám dỗ, lôi kéo của bạn bè T không kiềm chế được việc sử dụng ma túy và hiện tại đã nghiện. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T không những gây tác hại cho bản thân mà còn làm mất trật tự trị an trong xã hội.
Từ những nhận định trên, Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước xét thấy cần chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội huyện T về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của người bị đề nghị thì thấy: Từ năm 2012 đến ngày bị phát hiện, mỗi ngày Phạm Văn T sử dụng 02 lần ma túy nhưng các lần sử dụng trái phép chất ma túy trước đó chưa bị xử lý nên hành vi vi phạm của T thuộc tình tiết tăng nặng “vi phạm hành chính nhiều lần” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính. Trong quá trình lập hồ sơ cũng như tại phiên họp hôm nay, Phạm Văn T tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Bản thân T không có tiền án, tiền sự. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước sẽ xem xét các tình tiết này khi quyết định thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 3 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 3; khoản 2 Điều 9; điểm b khoản 1 Điều 10; các Điều 95, 96, 103, 104 và khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; các Điều 3, 4, 8, 9, 11, 12 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013;
Áp dụng các Điều 20, 22, 29, 30, 31 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày Phạm Văn T bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 12/7/2017)
3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định này trong hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Công an huyện T, Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội huyện T, Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Nam có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Quảng Nam; - VKSND huyện Tiên Phước; - Công an huyện T; - Phòng LĐ-TBXH huyện T; - Cơ sở cai nghiện ma túy t.Quảng Nam; - Người bị đề nghị; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | THẨM PHÁN (Đã ký) Lê Trung Thành |