vanban.org

Quyết định 06 — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Thạch Thị Kha Mét.

Tuyên bố: Ông Thạch Y, sinh năm 1970. Nơi cư trú cuối cùng: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh là đã chết. Kể từ ngày quyết định của Tòa án tuyên bố ông Thạch Y là đã chết có hiệu lực pháp luật được xem là ngày chết của ông Thạch Y. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Thạch Thị Kha Mét.
  • Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật dân sự và Nghị; Điều 71 Bộ luật dân sự và Nghị; Điều 72 Bộ luật dân sự và Nghị
HUYỆN TRÀ CÚ
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Soá: 06/2021/QÑST - DS
Ngày: 03 - 6 - 2021
Trà Cú, ngày 03 tháng 6 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lý Văn Sáu

Thö kyù phiên họp: Ông Lê Chế Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú tham gia phiên họp: Ông Kim Sum - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 320/2020/TLST-VDS ngày 14 tháng 12 năm 2020 về việc “yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo quyết định mở phiên họp số 04/2021/QĐST-ST ngày 24 tháng 5 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Bà Thạch Thị K, sinh năm 1949 (đề nghị giải quyết vắng mặt);

Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Thạch Thị V, sinh năm 1970 (đề nghị giải quyết vắng mặt);

2. Anh Thạch T, sinh năm 1997 (đề nghị giải quyết vắng mặt);

Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

3. Chị Thạch Thị S, sinh năm 1991 (đề nghị giải quyết vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết đề ngày 10/11/2020, người yêu cầu bà Thạch Thị K trình bày: Nguyên vào năm 2008, con ruột của bà là ông Thạch Y, sinh năm 1970. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh bị bệnh tâm thần đã bỏ nhà đi từ đó cho đến nay không về địa phương, không có liên lạc với người thân và cũng không có tin tức gì. Sau nhiều lần trực tiếp và nhờ người thân đi tìm kiếm, nhưng cho đến nay vẫn không biết tung tích của ông Y ở đâu và hiện nay còn sống hay đã chết. Nay bà Thạch Thị K yêu cầu Tòa án nhân dân huyện T tuyên bố một người là đã chết đối với ông Thạch Y, sinh năm 1970; nơi cư trú cuối cùng: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Mục đích yêu cầu tuyên bố ông Thạch Y là đã chết là để bổ sung thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Thạch Thị V, ông Thạch T và bà Thạch Thị S đều vắng mặt tại phiên họp và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng:

Qua kiểm sát việc giải quyết việc dân sự từ khi thụ lý đến thời điểm này, thấy rằng Thẩm phán và thư ký phiên họp đã chấp hành đúng trình tự thủ tục giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

Bà Thạch Thị K yêu cầu tuyên bố ông Thạch Y đã chết là có cơ sở chấp nhận. Bởi vì, ông Thạch Y, sinh năm 1970. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh đã bỏ địa phương đi biệt tích trên 05 năm từ năm 2008 đến nay, không rõ đang ở đâu, gia đình không thể liên lạc được. Đăng tin trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng không có tin tức của ông Thạch Y. Đề nghị Thẩm phán chủ trì phiên họp áp dụng các điều Điều 369; 370; 391; 392 và 393 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 68; Điều 71 và Điều 72 Bộ luật dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Thạch Thị K. Tuyên bố ông Thạch Y, sinh năm 1970 nơi cư trú cuối cùng ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh là đã chết. Kể từ ngày quyết định của Tòa án tuyên bố ông Thạch Y là đã chết có hiệu lực pháp luật được xem là ngày chết của ông Thạch Y. Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình; quan hệ về tài sản và các quan hệ nhân thân khác của ông Thạch Yên được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông Thạch Y được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế. Về lệ phí thì người yêu cầu bà Thạch Thị K được miễn nộp lệ phí theo quy định. Bà Thạch Thị K phải chịu chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, quan điểm của Viện Kiểm sát huyện T, Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh nhận định:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do bà Thạch Thị K cung cấp, ngày 14/12/2020 Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh thụ lý vụ việc dân sự là phù hợp theo quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bà Thạch Thị K có cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án thể hiện đã đăng thông báo tìm kiến trên báo Công lý các số 006 (808) ngày 19/01/2021, số 007 (809) ngày 22/01/2021, số 008 (810) ngày 26/01/2021 và trên Đài tiếng nói Việt Nam phát sóng khung giờ từ 06h30 đến 07h00 và từ 14h30 đến 15h00 trong các ngày 18/01/2021; 19/01/2021 và 20/01/2021 và Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao. Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng, kể từ ngày đăng phát thông báo lần đầu tiên theo quy định nhưng vẫn không có tin tức gì xác thực về việc ông Thạch Y còn sống hay đã chết. Do đó, yêu cầu của bà Thạch Thị K đề nghị Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh tuyên bố ông Thạch Y là đã chết là có căn cứ chấp nhận và phù hợp với quy định tại các Điều 388; 391; 392 và 393 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 68, Điều 71 và Điều 72 Bộ luật dân sự năm 2015.

Xét thấy ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T là có căn cứ chấp nhận.

Về lệ phí sơ thẩm: Bà Thạch Thị K được miễn toàn bộ do thuộc đối tượng được miễn. Về chi phí cho việc đăng phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố một người là đã chết thì bà Thạch Thị K phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 369; 370; 371; 372; 391; 392; 393 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 68; Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Thạch Thị Kha Mét.

Tuyên bố: Ông Thạch Y, sinh năm 1970. Nơi cư trú cuối cùng: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh là đã chết.

Kể từ ngày quyết định của Tòa án tuyên bố ông Thạch Y là đã chết có hiệu lực pháp luật được xem là ngày chết của ông Thạch Y.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình; quan hệ về tài sản và các quan hệ nhân thân khác của ông Thạch Y được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông Thạch Y được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Thạch Thị K được miễn toàn bộ.

Về chi phí tố tụng: Bà Thạch Thị K phải chịu lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng là 2.544.000 đồng (đã nộp đủ).

Về quyền khách cáo: Các đương sự không có mặt tại phiên họp thì có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày tính từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ