vanban.org

Quyết định 06/QĐ-TA

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 12/01/2018 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối

với L M H, sinh năm 1993; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ 13, khóm V T 1, Phường N S, thành phố C Đ, tỉnh A G; chỗ ở hiện nay: Tổ 13, Khóm V T 1, phường N S, thành phố C Đ, tỉnh A G. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 tháng, kể từ Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối
  • Căn cứ chính? Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 22 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ C Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH A G
Số: 06 /QĐ-TA
C Đ, ngày 12 tháng 01 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C Đ

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Phạm Thị Bích Thủy.

2. Thư ký phiên họp: Nguyễn Phát Huy.

Ngày 12 tháng 01 năm 2018, tại Cơ sở Điều trị Cai Nghiện Ma Túy tỉnh

A G tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 09/QĐ-TA

ngày 03 tháng 01 năm 2018 đối với:

L M H, sinh năm 1993; Giới tính: Nam;

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ 13, khóm V T 1, Phường N S,

thành phố C Đ, tỉnh A G;

Nghề nghiệp: không;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Đạo phật;

Trình độ văn hóa: 5/12

Chỗ ở hiện nay: Tổ 13, khóm V T 1, Phường N S, thành phố C Đ, tỉnh A

G;

Tiền án: Không.

Tiền sự: Bị áp dụng biện pháp giáo tại xã, phường, thị trấn theo Quyết

định số 163/QĐ-UBND ngày 05/5/2017 với thời gian 03 tháng, chấp hành xong

ngày 05/8/2017.

Con ông L V B và bà N T P (chết ).

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Thanh Nhã – Cán bộ Phòng Lao

động - Thương binh và Xã hội thành phố C Đ là đại diện theo ủy quyền, có mặt.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C Đ tham gia phiên họp:

Ông Nguyễn Văn Thành – Kiểm sát viên, có mặt.

NHẬN THẤY:

Ngày 26/2/2017, L M H bị Công an phường N S mời làm việc về hành vi sử

dụng trái phép chất ma túy và đưa Hoàng đi xét nghiệm với kết quả dương tính. Đồng thời Công an phường N S lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Hoàng .

Ngày 27/02/2017 Ủy ban nhân dân phường N S ban hành Quyết định số

100/QĐ-UBND giao cho Cơ sở điều trị , cai nghiện ma túy tỉnh A G quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và ngày 21/4/2017 lập Đề nghị lập hồ sơ áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và gởi văn bản đến gia đình của Hoàng.

Đến ngày 05/5/2017 Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N S ban hành Quyết

định số 163/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phường đối với Hòang với thời gian giáo dục 03 tháng, từ ngày 05/5/2017 đến ngày 05/8/2017..

Ngày 05/8/2017 Chủ tịch UBND phường N S cấp giấy chứng nhận đã chấp

hành xong quyết định áp dụng biện pháp tại phường số 08/GCN – UBND đối với Hoàng.

Sau đó Hoàng tiếp tục sử dụng chất ma túy nên ngày 09/12/2017 bị Công an

phường N S đưa đi xét nghiệm, kết quả dương tính và lập biên bản vi phạm hành chính .

Cùng ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N S ban hành Quyết định số

505/QĐ-UBND giao cho Cơ sở điều trị , cai nghiện ma túy tỉnh A G quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thông báo về việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Lê Minh Hoàng và thông báo đến gia đình Hoàng .

Ngày 12/12/2017 Ủy ban nhân dân phường N S lập Đề nghị số 47/ĐN-

UBND về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Theo Thông báo số 128/TB - PTP ngày 20/12/2017, Phòng Tư pháp thành

phố C Đ đã kết luận, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với L M H bảo đảm về tính pháp lý.

Ngày 25/12/2017, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố C

Đ ban hành văn bản số 120/LĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân thành phố C Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L M H với thời hạn tập trung từ 15 đến 24 tháng.

Tại phiên họp:

- Ý kiến của đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố

C Đ: Vẫn giữ quan điểm đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L M H với thời gian tập trung cai nghiện từ 15 đến 24 tháng.

- Ý kiến của L M H thừa nhận sử dụng trái phép ma túy như hồ sơ thể

hiện, xin áp dụng thời gian cai nghiện thấp.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp: L M H đã bị áp dụng biện

pháp giáo dục tại phường theo Quyết định số 163/QĐ-UB ngày 05/5/2017 của

Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N S với thời gian 03 tháng (từ ngày 05/5/2017

đến ngày 05/8/2017) và đã được cấp Giấy chứng nhận số 08/GCN ngày 05/8/2017

về việc chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường. Tuy

nhiên, đến ngày 09/12/2017, Hoàng tiếp tục sử dụng trái phép ma túy và Công an

phường N S đưa Hoàng đi xét nghiệm với kết quả dương tính với chất ma túy

theo Phiếu xét nghiệm chất ma túy ngày 09/12/2017 của Bệnh viện đa khoa

thành phố C Đ nên lập biên bản vi phạm về hành vi sử dụng ma túy trái phép đối

với Hoàng.

Vì vậy, việc Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố C Đ ban

hành văn bản số 120/PLĐTBXH ngày 25/12/2017 đề nghị Tòa án đưa L M H

vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 96

Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Đề nghị Toà án nhân dân thành phố C Đ giải quyết theo hướng chấp nhận

đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố C Đ áp dụng

biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L M H.

XÉT THẤY:

* Về tố tụng:

Hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố C

Đ đúng quy định tại Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

* Về nội dung:

Tại phiên họp, L M H thừa nhận vào ngày 09/12/2017 có sử dụng trái phép

chất ma túy, Công an phường N S đưa Hoàng đi xét nghiệm, kết quả dương tính với

chất ma túy và lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Lời khai nhận của L M H tại phiên họp phù hợp với các kết quả xét

nghiệm của cơ quan chuyên môn, Tờ tự khai của Hoàng, biên bản ghi lời khai

do Công an phường N S lập ngày 09/12/2017, biên bản vi phạm hành chính do

Công an phường N S lập và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đề nghị.

Xét L M H đã thành niên, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đã

bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã mà vẫn còn vi phạm. Vì vậy, việc Phòng

Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố C Đ đề nghị đưa Hoàng vào cơ sở

điều trị cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 96

Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nên chấp nhận.

Về tình tiết giảm nhẹ, L M H có thái độ thành khẩn khai báo là tình tiết

giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Cho

nên, cần xét giảm nhẹ cho Hoàng khi quyết định thời hạn áp dụng biện pháp xử

lý hành chính.

Vì các lẽ trên,

Áp dụng khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 104,

Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; các Điều 22, 23, 31 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối

với L M H, sinh năm 1993; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ 13, khóm V T 1, Phường N S, thành phố C Đ, tỉnh A G; chỗ ở hiện nay: Tổ 13, Khóm V T 1, phường N S, thành phố C Đ, tỉnh A G.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 tháng, kể từ

ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 09 tháng 12 năm 2017).

3. Thời hạn kiến nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành

phố C Đ và thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C Đ là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

Thời hạn khiếu nại của L M H là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án

công bố Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,

kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an nhân dân thành phố C Đ chủ trì

phối hợp với Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố C Đ đưa L M H vào Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh A G.

Cỡ chữ