vanban.org

Quyết định 06/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T1, sinh ngày 15 tháng 8 năm 1979, hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã S, tỉnh Phú Thọ vào Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Phú Thọ.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định, Công an xã S có quyền kiến nghị, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11 có q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T1, sinh ngày 15 tháng 8 năm 1979, hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã S, tỉnh Phú Thọ vào Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Phú Thọ.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11- PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/QĐ-TAPhú Thọ, ngày 14 tháng 8 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH PHÚ THỌ

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Kim Thị Ánh V

2. Thư ký phiên họp: Ông Trần Mạnh Tuấn

Ngày 14 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh Phú Thọ tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 05/QĐ-TA ngày 04 tháng 8 năm 2025 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Văn T 15/8/1979; căn cước công dân số 026079001803, ngày cấp 29/11/2024, nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC về TTXH- Bộ C; Hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã S, tỉnh Phú Thọ; Chỗ ở: Thôn H, xã S, tỉnh Phú Thọ; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Tiền án: 03; tiền sự: Không.

Con ông: Nguyễn Văn M (đã chết) và bà Đào Thị S

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Phan Công A- Trưởng Công an xã S1.

+ Người được ủy quyền: Ông Kiều Văn Q- Chức vụ: Phó trưởng Công an xã S1(Theo văn bản ủy quyền ngày 13/8/2025)

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11: Bà Trần Thị Thúy Nga -Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Qua phản ánh của quần chúng nhân dân, Nguyễn Văn T1 thường sử dụng ma túy. Công an xã S1 đã triệu tập T lên làm việc, tiến hành lấy lời khai và thu mẫu để xét nghiệm nước tiểu của T2 Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 14/7/2025 của Trạm Y tế xã S xác định T có nghiện ma túy loại Heroine. Công an xã S đã lập biên bản yêu cầu T trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày 15/7/2025 phải đến Ủy ban nhân dân xã S để làm thủ đăng ký cai nghiện tự nguyện nhưng T không thực hiện.

Tại bản tường trình và biên bản lấy lời khai T thể hiện: Bản thân nghiện ma túy từ năm 2012, hình thức sử dụng là trích, ngày nào cũng phải sử dụng ma túy, tần suất sử dụng không cố định, lần sử dụng ma túy gần nhất là ngày 14/7/2025. Thơm không đăng ký tham gia cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại Ủy ban nhân dân xã.

Đại diện cơ quan đề nghị, đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 11 xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T tại Cơ sở cai nghiện ma túy số B, tỉnh Phú Thọ, thời hạn từ 22 tháng đến 24 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 11 căn cứ vào khoản 2 Điều 9, Điều 95, 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; khoản 49, 59 Điều 1 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020; khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ CViện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao, xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T tại Cơ sở cai nghiện ma túy số B, tỉnh Phú Thọ, thời hạn từ 22 tháng đến 24 tháng.

Người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp, tuy nhiên trong biên bản ghi lời khai và bản tường trình đã thừa nhận hành vi sử dụng ma túy trái phép và xin chịu trách nhiệm trước pháp luật.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và trên cơ sở ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, thấy rằng:

Về tính hợp pháp của hồ sơ: Tài liệu có trong hồ sơ đề nghị được thu thập đầy đủ, đảm bảo về trình tự, thủ tục, thẩm quyền và thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính và hướng dẫn tại các Điều 40, 41, 42 và 43 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị áp dụng: Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, làm lan tràn tệ nạn ma túy trong cộng đồng, gây tác động tiêu cực đến quá trình đấu tranh về tệ nạn ma túy trong xã hội. Mặc dù, nhận thức rõ tác hại của ma túy cũng như quy định của pháp luật nghiêm cấm sử dụng trái phép chất ma túy nhưng do thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng bản thân nên T đã nghiện ma túy từ năm 2012 cho đến nay. Đến nay, T vẫn đang nghiện ma túy, Công an xã đã lập biên bản yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc phải đến Uỷ ban nhân dân xã để đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nhưng T không thực hiện, do vậy T thuộc trường hợp “không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện” theo khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy; điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Do vậy, cần áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T để có điều kiện cải tạo bản thân.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tại phiên họp Thơm vắng mặt, các tài liệu trong hồ sơ thể hiện T là người nghiện chất ma túy và đã thành khẩn khai nhận về hành vi vi phạm của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính; T không có tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 10 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét thấy, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy có tác động rất xấu đến mọi mặt của đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, sự phát triển trí tuệ, thể chất của con người, làm suy thoái đạo đức và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm. Do đó việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T như đề nghị của đại diện Công an xã S, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 là cần thiết và hoàn toàn phù hợp pháp luật.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 9, Điều 95, 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; khoản 49, 59 Điều 1 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020; khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ CViện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao, cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T2

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T1, sinh ngày 15 tháng 8 năm 1979, hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã S, tỉnh Phú Thọ vào Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Phú Thọ.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định, Công an xã S có quyền kiến nghị, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11 có quyền kháng nghị; người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính vắng mặt có quyền khiếu nại Quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã S1 có trách nhiệm đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được quyết định.

Cỡ chữ