vanban.org

Quyết định 06/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Đối với: Trần Quang T, sinh năm 1988 Nơi ĐKHKTT: Thôn TB, xã NH1, huyện ĐB, tỉnh ĐB Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Quang Thêm - Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẾ VÕ
TỈNH BẮC NINH
_____________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/QĐ - TAQV, ngày 24 tháng 3 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị L

Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị H

Ngày 24 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện QV tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 06/QĐ - TA ngày 20 tháng 13 năm 2023, đối với:

Trần Quang T; Giới tính: Nam; Sinh ngày 05/8/1988; Số định danh cá nhân: 011088005367; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi ĐKHKTT: Thôn TB, xã NH1, huyện ĐB, tỉnh ĐB; Chỗ ở hiện tại: Không có nơi cư trú ổn định. (Xin vắng mặt tại phiên họp)

Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không có.

Con ông Trần Quang T, sinh năm 1950 và con bà Trần Thị G, sinh năm 1954

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Văn T1, Chức vụ: Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện QV.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện QV: Ông Đặng T1 M - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY

Trần Quang T là đối tượng thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy từ đầu năm 2022. Ngày 01/3/2023, Công xã PL bắt quả tang và lập biên bản vi phạm hành chính đối với T do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại thôn Giang Liễu, xã PL, huyện QV. Qua xác minh, Công an xã NH1, huyện ĐB, tỉnh ĐB và đại diện gia đình của T thì Trần Quang T có đăng ký Hộ khẩu thường trú tại địa phương, là đối tượng nghiện và sử dụng trái phép chất ma túy nhưng thường xuyên vắng mặt tại địa phương hơn 01 năm nay, không ai biết đi đâu, làm gì. Sau khi bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy, T đã khai nhận vẫn thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy, ngày một lệ thuộc và không tự từ bỏ được. Ngày 01/3/2023, Chủ tịch UBND xã PL đã đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Trần Quang T. Ngày 06/3/2023, Ủy ban nhân dân xã PL đã có thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của T và đề nghị T phải đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng nơi cư trú trong thời gian 05 ngày theo quy định của pháp luật, tuy nhiên T đã không thực hiện. Sau khi lập biên bản vi phạm, ngày 12/3/2023, Ủy ban nhân dân xã PL đã có báo cáo đề nghị áp dụng biện pháp đưa đối tượng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Quang T.

Với hành vi sử dụng chất ma túy nêu trên, Ủy ban nhân dân xã PL đã lập hồ sơ và đề nghị Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện QV xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 15/3/2023, Phòng Lao Động – Thương Binh và xã hội huyện QV có văn bản số 15/CV- LĐTBXH về việc “Đưa đối tượng đi cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện của tỉnh” đối với Trần Quang T.

Tại phiên họp, Đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện QV đề nghị Tòa án xem xét hành vi, mức độ vi phạm hành chính của người bị đề nghị để áp dụng thời hạn cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện QV tại phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Kể từ khi thụ lý hồ sơ đến khi mở phiên họp đều đảm bảo đúng trình tự quy định của pháp luật; Trên cơ sở hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện QV đã đủ căn cứ để đưa người bị yêu cầu đi cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đề nghị áp dụng Điều 96, Điều 105, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Nghị định 116/2021/ NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy; Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Viện kiểm sát nhất trí đề nghị của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện QV.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ; Ý kiến của đại diện Phòng Lao động thương binh & Xã hội; Ý kiến đại diện Viện kiểm sát. Sau khi đánh giá, phân tích toàn diện, khách quan, đầy đủ chứng cứ.

XÉT THẤY

Căn cứ vào hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Quang T thể hiện: Ngày 01/3/2023, Công xã PL bắt quả tang và lập biên bản vi phạm hành chính đối với T do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại thôn Giang Liễu, xã PL, huyện QV. Qua xác minh tại Công an xã NH1, huyện ĐB, tỉnh ĐB và đại diện gia đình của T được biết Trần Quang T có đăng ký Hộ khẩu thường trú tại địa phương, là đối tượng nghiện và sử dụng trái phép chất ma túy nhưng thường xuyên vắng mặt tại địa phương hơn 01 năm nay, không ai biết đi đâu, làm gì. Sau khi bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy, T đã khai nhận vẫn thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy, ngày một lệ thuộc và không tự từ bỏ được.

Bản thân T có đủ nhận thức để biết được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Nhưng để thỏa mãn cơn nghiện, T vẫn sử dụng trái phép chất ma túy. Như vậy, Trần Quang T là người nghiện ma túy nhưng chưa có ý thức cai nghiện. Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của cơ quan đề nghị là phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Quang T không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân, hạn chế khả năng lao động, giảm sút về kinh tế gia đình mà hành vi đó còn ảnh hưởng đến trật tự trong lĩnh vực quản lý hành chính, ảnh hưởng xấu đến đời sống gia đình và xã hội. Xét thấy, T không đủ khả năng tự cai nghiện tại gia đình và cộng đồng nên cần áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhằm động viên, giúp đỡ T học tập, cai nghiện đối với chất ma túy.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: T đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi.

Xét thấy cần thiết áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Quang T với thời hạn 12 tháng là phù hợp. Do vậy đề nghị của Phòng Lao động Thương binh & Xã hội huyện QV là có căn cứ, cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào Điều 96, Điều 105, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Nghị định 116/2021/ NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Đối với: Trần Quang T, sinh năm 1988

Nơi ĐKHKTT: Thôn TB, xã NH1, huyện ĐB, tỉnh ĐB

Chỗ ở hiện tại: Không có nơi cư trú ổn định

Nơi thi hành: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh BN.

2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:

Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính vắng mặt có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Phòng Lao động thương binh & Xã hội huyện QV có quyền kiến nghị quyết định trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

Viện kiểm sát nhân huyện QV có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động thương binh và Xã hội huyện QV; Công an huyện QV, Ủy ban nhân dân xã PL, Công an xã PL, Công an xã NH1..

Cỡ chữ