vanban.org

Quyết định 06/QĐ-TA

TAND huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 10/05/2019 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị đưa trở lại cơ sở cai nghiện bắt buộc, được trừ đi thời gian đã cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở tư vấn và cai nghiện tỉnh Gia Lai từ ngày 15/3/2019 đến ngày 28/… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN G
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/QĐ-TAG, ngày 10 tháng 5 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH GIA LAI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Lê Văn Đính

2. Thư ký phiên họp: Ông Vương Tấn Lập

Ngày 10 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Gia Lai tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 06/QĐ-TA ngày 03 tháng 5 năm 2019 đối với:

Họ và tên: Trần Văn T; Tên gọi khác: B.

Sinh ngày 13 tháng 02 năm 1991.

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 6/12;

Nguyên quán: Thừa Thiên Huế;

Nghề nghiệp: Làm nông; Tiền án: 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”; Tiền sự: Không.

Nơi đăng ký HKTT: Thôn H, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định.

Con ông Trần Văn T1 và bà Nguyễn Thị L.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đỗ Văn Tuất - Chuyên viên của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G, tỉnh Gia Lai (Theo văn bản ủy quyền số 05/GUQ-LĐTBXH ngày 25/4/2019).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, tỉnh Gia Lai: Bà Lê Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Trần Văn T bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ tháng 12 năm 2018. Đến ngày 15/3/2019, T bị Công an xã D, huyện G, tỉnh Gia Lai lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tại biên bản xét nghiệm và phiếu trả lời kết quả của Trạm y tế xã D, huyện G đã xác định Trần Văn T dương tính với chất ma túy Methamphetamine và là người nghiện ma túy. Qua xác minh, Trần Văn T không có nơi cư trú ổn định.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G đề nghị Tòa án nhân dân huyện G xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy là đối tượng Trần Văn T với thời hạn 24 tháng.

Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính được đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục của Luật xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân và Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện G xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy là đối tượng Trần Văn T với thời hạn 24 tháng như đề nghị của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Đầy đủ các tài liệu, giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vẫn còn theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Trần Văn T là người nghiện ma túy, đã trên 18 tuổi và không có nơi cư trú ổn định nên là đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã D đã quyết định lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và quyết định giao Trần Văn T cho Cơ sở tư vấn và cai nghiện tỉnh Gia Lai để cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính và điểm b khoản 2 Điều 9 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Trần Văn T được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Hồ sơ đã được Trưởng Phòng Tư pháp kiểm tra và xác định hồ sơ bảo đảm tính pháp lý theo quy định tại Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Trần Văn T là đối tượng nghiện ma túy, không có tình tiết tăng nặng nhưng có nhân thân xấu, đã có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, đang chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng bỏ trốn và đã bị Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc ra quyết định truy tìm nên cần phải xử lý nghiêm. Tuy nhiên, quá trình xử lý Trần Văn T cũng đã “tự nguyện khai báo” là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính nên cũng cần được xem xét.

Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn T là có căn cứ và đúng pháp luật.

Căn cứ vào các Điều 7, khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 95, 96, 103, 104, 105, 107 và 108 Luật xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ vào các Điều 3, 22, 23, 24, 30, 31 và 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ vào các Điều 3, 4, 8, 9, 13, 15 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị đưa trở lại cơ sở cai nghiện bắt buộc, được trừ đi thời gian đã cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở tư vấn và cai nghiện tỉnh Gia Lai từ ngày 15/3/2019 đến ngày 28/3/2019.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án hoặc quyết định của Tòa án được niêm yết, Trần Văn T có quyền khiếu nại. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gcó quyền kháng nghị Quyết định của Tòa án.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện G, Phòng Lao động -Thương binh và Xã hội huyện G.

Cỡ chữ