vanban.org

Quyết định 06/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1].Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn A, sinh năm 1993; HKTT tổ 1, ấp 2, xã 3, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

[2].Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. [3].Người bị áp dụng có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ có quyề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Xem xét áp dụng biện pháp hành chính đối với Hà Văn A"
  • Tòa quyết gì? [1].Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn A, sinh năm 1993; HKTT tổ 1, ấp 2, xã 3, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẤT ĐỎ
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/QĐ-TAĐất Đỏ, ngày 18 tháng 02 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán:

Ông Nguyễn Duy Đạt

2. Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Mai

Ngày 18 tháng 02 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ tiến hành hiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 02/QĐ-TA ngày 11 tháng 02 năm 2019, đối với:

Họ và tên: Hà Văn A. Giới tính: Nam. (có mặt)

Sinh ngày 27 tháng 7 năm 1993 tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;

Hộ khẩu thường trú: tổ 1, ấp 2, xã 3, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Chỗ hiện nay: tổ 1, ấp 2, xã 3, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Trình độ học vấn: 8/12. Nghề nghiệp: Làm nông.

Tiền án: 01. Tiền sự: 04.

Con ông Hà Văn T và bà Võ Thị B.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Huỳnh Kim Thành, chức vụ: Chuyên viên phòng Lao động -Thương binh và Xã hội huyện Đất Đỏ;

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ: Ông Nguyễn Minh Khuê-Kiểm sát viên;

3. Đại diện Công an xã 3, huyện Đất Đỏ: Ông Trần Văn Sang, chức: Phó Công an xã 3;

5. Những người khác:

-Ông Hà Văn T, sinh năm 1971; tổ 1, ấp 2, xã 3, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (có mặt)

NHẬN THẤY:

Ngày 28/01/2019 Phòng lao động thương binh xã hội huyện Đất Đỏ có văn bản số 21/LĐTBXH đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Hà Văn A do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể như sau:

Ngày 17/10/2018 Công an xã 3, huyện Đất Đỏ mời thử test đối với đối tượng Hà Văn A, đồng thời lập biên bản xét nghiệm chất ma túy và đề nghị Trạm ý tế xã 3 xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Hà Văn A; cùng ngày Trạm ý tế xã 3 thông báo kết quả đối tượng A có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng Methamphetamine;

Tại Công an xã 3, huyện Đất Đỏ, qua bản tường trình và biên bản ghi lời khai đối tượng A đã tự nhận có sử dụng trái phép chất ma túy đá;

Ý kiến Phòng Lao động thương binh, xã hội huyện Đất Đỏ: Đối tượng Hà Văn A nghiện ma túy nên các cơ quan có thẩm quyền đã lập hồ sơ theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật. Nay đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn A, sinh năm 1993, thường trú ấp 2, xã 3, huyện Đất Đỏ, thời hạn là 24 tháng.

Ý kiến người bị đề nghị: Tại bản tường trình và Biên bản ghi lời khai ngày 17/10/2018, đối tượng Hà Văn A xác nhận bản thân nghiện ma túy đá đúng như cơ quan chức năng xác định, hiện nay vẫn còn nghiện và cơ quan Công an lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ phát biểu:

-Về việc tuân theo pháp luật của Tòa án:

+TAND huyện Đất Đỏ đã thực hiện đúng quy định về thời hạn xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Điều 7 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

+TAND huyện Đất Đỏ thụ lý vụ việc đúng thời hạn và thông báo cho VKSND về việc thụ lý vụ việc đúng quy định tại Điều 8 và Điều 11 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

+TAND huyện Đất Đỏ thực hiện việc phân công Thẩm phán xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn theo quy định tại Điều 9 và Điều 10 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

+Thẩm phán triệu tập thành phần tham gia phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo đúng quy định tại Điều 17 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

+Thẩm phán, Thư ký thực hiện trình tự xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo đúng quy định tại Điều 20 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

-Về đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Có đủ căn cứ và thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Hà Văn A; đề nghị Thẩm phán chấp nhận đề nghị của Phòng lao động thương binh và xã hội huyện Đất Đỏ.

XÉT THẤY:

Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp, căn cứ vào ý kiến của người đại diện Phòng lao động-thương binh và xã hội, ý kiến của kiểm sát viên và ý kiến của mẹ người bị đề nghị, thấy rằng:

Về thời hiệu: Đối tượng Hà Văn A bị Công an xã 3 phát hiện và lập biên bản hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 17/10/2018; ngày 28/01/2019 Phòng lao động-thương binh và xã hội huyện Đất Đỏ có văn bản đề nghị đưa đối tượng A vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là còn trong thời hiệu, phù hợp với quy định tại Điều 4 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ và điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về thẩm quyền: Phòng lao động-thương binh và xã hội huyện Đất Đỏ có công văn đề nghị nên theo khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính TAND huyện Đất Đỏ thụ lý xem xét, giải quyết là đúng thẩm quyền.

Về người bị đề nghị: Đối tượng Hà Văn A đã trên 18 tuổi có nơi cư trú ổn định, đã bị áp dụng giáo dục tại xã, phường, thị trấn và cai nghiện bắt buộc từ tháng 10/2018 do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện; nay Phòng lao động-thương binh và xã hội huyện Đất Đỏ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng A là phù hợp quy định tại Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ, Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ và khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Đối tượng A được Tòa án tống đạt theo đúng quy định của pháp luật nhưng tại phiên họp đối tượng A vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt đối với A theo quy định khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

Về trình tự thủ tục:

Đối với cơ quan lập hồ sơ đề nghị: Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị theo quy định, ngày 22/11/2018 Công an xã 3 có thông báo số 10/TB-CAX thông báo cho đối tượng A biết; ngày 27/11/2018 đối tượng A đã đọc hồ sơ đề nghị đối với mình, gồm: Phiếu trả lời kết quả về việc xác nhận tình trạng nghiện ma túy, Biên bản vi phạm hành chính, bản tường trình về hành vi sử dụng chất ma túy trái phép, biên bản lấy lời khai, bản tóm tắt lý lịch của người bị đề nghị, Quyết định số 130/QĐ-UBND ngày 20/10/2018 của Chủ tịch UBND xã 3, biên bản giao nhận giấy chứng nhận chấp hành xong thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn và bản cam kết; ngày 04/12/2018 Công an xã 3 có văn bản số 99/VBĐN-CAX gửi Trưởng phòng tư pháp huyện đề nghị kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ là phù hợp quy định tại các Điều 8, 9, 10, 11 và khoản 1 Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ và khoản 3 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Tuy nhiên biên bản về việc đọc hồ sơ đối với đối tượng A chỉ ghi: Các tài liệu được đọc gồm 01 tập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là chưa rõ ràng, chưa thể hiện đầy đủ các tài liệu có trong hồ sơ; tuy nhiên thiếu sót này đã được làm rõ tại phiên họp nên chỉ nêu ra để Công an xã 3 rút kinh nghiệm chung.

Đối với cơ quan kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị: Ngày 24/01/2019 Phòng tư pháp huyện Đất Đỏ nhận được văn bản và hồ sơ đề nghị do Công an xã 3 bàn giao; sau khi tiến hành kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị, cùng ngày Trưởng phòng tư pháp huyện Đất Đỏ gửi toàn bộ hồ sơ đề nghị cho Trưởng Phòng lao động-thương binh và xã hội huyện Đất Đỏ là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ và khoản 3 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Đối với cơ quan xem xét, quyết định chuyển hồ sơ đề nghị: Ngày 24/01/2019 Phòng lao động-thương binh và xã hội huyện Đất Đỏ nhận được hồ sơ đề nghị do Phòng tư pháp huyện bàn giao, ngày 29/01/2019 Phòng lao động-thương binh và xã hội huyện Đất Đỏ chuyển hồ sơ đề nghị đến TAND huyện Đất Đỏ là trong thời hạn theo quy định tại điển a khoản 1 Điều 13 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ, khoản 1, 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về tính tiết giảm nhẹ, tăng nặng:

-Ngày 14/8/2015 bị TAND huyện Đất Đỏ xử phạt 06 tháng tù và đã chấp hành xong ngày 14/8/2016 theo quyết định số 14/GCN-CQTHAHS ngày 14/8/2016 của Công an huyện Đất Đỏ.

-Từ tháng 10/2017 đến tháng 01/2018 đối tượng A bị bị đưa vào quản lý tại địa phương theo Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 130/QĐ-UBND ngày 20/10/2017 và đến ngày 22/01/2018 đã chấp hành xong theo quyết định số 01/GCN-UBND-CA của Chủ tịch UBND xã 3, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

-Ngày 29/3/2018 bị Công an xã 3 xử phạt 750.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng.

-Qúa trình bị lập hồ sơ đối tượng A tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi;

Tuy nhiên đối tượng A là người có nhân thân xấu: có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng đã được xóa án tích.

Theo quy định tại Điều 9 và Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính đối tượng A không có tình tiết tăng nặng, có 01 tình tiết giảm nhẹ.

Về hình thức, biện pháp và thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, có đủ cơ sở để xác định đối tượng Hà Văn A, sinh năm 1993, trên 18 tuổi là đối tượng nghiện ma túy từ tháng 10/2017 và tiếp tục sử dụng vào ngày 12/10/2018; quá trình làm việc tại Công an đối tượng A tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, đối tượng nhận thức được tác hại của ma túy và việc sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật nhưng muốn thỏa mãn ham muốn cá nhân nên đối tượng A vẫn sử dụng. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đối tượng A là xâm phạm đến trật tự quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước; mặt khác việc sử dụng trái phép chất ma túy ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của giống nòi và là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội khác. Do đó, cần tạo điều kiện cho đối tượng A điều trị, cai nghiện được ma túy, tự cải tạo bản thân và tái hòa nhập cộng đồng.

Đề nghị của Phòng lao động-thương binh và xã hội huyện Đất Đỏ về việc đưa đối tượng Hà Văn A vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian nhất định để chữa bệnh, phục hồi sức khỏe là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính nên được chấp nhận.

Về phát biểu của Kiểm sát viên: Tại phiên họp, Kiểm sát viên đề nghị Thẩm phán chấp nhận đề nghị của Phòng lao động-thương binh và xã hội huyện Đất Đỏ là có căn cứ, nên ghi nhận.

Về quyền khiếu nại: Người bị đề nghị có quyền khiếu nại theo quy định tại Điều 30, 31, 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điều 9, Điều 10, khoản 3 Điều 103, Điều 104, Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính;

Các Điều 3,4, 8, 9, 10, 11, 12, 13 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ;

Các Điều 3, 30, 31, 32 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ.

[1].Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn A, sinh năm 1993; HKTT tổ 1, ấp 2, xã 3, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

[2].Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

[3].Người bị áp dụng có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định; đối với đối tượng bị áp dụng không có mặt tại phiên họp thì thời hạn khiếu nại tính từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết.

[4].Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

[5].Phòng lao động-thương binh và xã hội huyện Đất Đỏ phối hợp với Công an huyện Đất Đỏ đưa đối tượng phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ