- Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "UBND xã K - H"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu của UBND xã K, thành phố Hải Phòng về việc hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Bùi Văn H và chị Phạm Thị H1 theo giấy chứng nhận kết hôn số 022/1993 ngày 25/3/1993 của UBND xã L, huyện K, tỉnh Hải Hưng (nay là xã K, thành phố Hải Phòng).
- Căn cứ chính? Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số 06/2026/QĐST-VDS | Hải Phòng, ngày 12 tháng 02 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – HẢI PHÒNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đỗ Thị Hạnh
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Hải Phòng tham gia phiên họp: Ông Vũ Văn Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 02 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 – Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 51/2026/TLST-DS ngày 26 tháng 01 năm 2026 về yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 32/2026/QĐST-DS ngày 02/02/2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
* Người yêu cầu: UBND xã K, thành phố Hải Phòng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn N – Chủ tịch UBND xã.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Bùi Văn H, sinh ngày 08/9/1975
Địa chỉ: Thôn T, xã K, thành phố Hải Phòng.
Số CCCD: xxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 24/9/2021.
- Chị Phạm Thị H1, sinh ngày 01/01/1974
Địa chỉ: Thôn T, xã K, thành phố Hải Phòng.
Số CCCD: xxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 06/9/2021
Đều vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu và quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu trình bày: Căn cứ để UBND xã K yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật: UBND xã K nhận được đơn đề nghị của anh Bùi Văn H, sinh năm 1975 và chị Phạm Thị H1, sinh năm 1974 đều địa chỉ: Thôn T, xã K, thành phố Hải Phòng về việc đề nghị UBND xã K xem xét trường hợp đăng ký kết hôn chưa đủ tuổi của anh chị theo Giấy chứng nhận kết hôn số 022/1993 ngày 25/3/1993 của UBND xã L, huyện K, tỉnh Hải Hưng (nay là xã K, thành phố Hải Phòng).
UBND xã K kiểm tra thấy rằng, anh H và chị H1 có đăng ký kết hôn, tại sổ đăng ký kết hôn năm 1993, với tên chồng Bùi Văn H, sinh năm 1973, ngày đăng ký kết hôn là 25/3/1993. Căn cứ giấy tờ, hồ sơ của công dân (giấy khai sinh, căn cước công dân) cho thấy tại thời điểm kết hôn anh H chưa đủ tuổi kết hôn theo Luật hôn nhân và gia đình năm 1986. Tuy nhiên, khi đăng ký kết hôn, anh H đã khai tăng tuổi để đủ tuổi được đăng ký kết hôn, do vậy tại sổ đăng ký kết hôn, giấy chứng nhận kết hôn đã ghi anh H sinh năm 1973.
UBND xã giữ nguyên yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật của anh H và chị H1. Trường hợp anh H, chị H1 có đề nghị Toà án công nhận hôn nhân của anh chị kể từ thời điểm anh H đủ tuổi kết hôn thì đề nghị Toà án giải quyết theo nguyện vọng của anh H, chị H1.
Hiện nay, do tính chất công việc phải giải quyết, UBND xã K đề nghị được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc của Toà án liên quan đến giải quyết vụ việc dân sự trên. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: A, chị H1 trình bày: Anh chị sau thời gian tự nguyện tìm hiểu và kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được UBND xã L, huyện K, tỉnh Hải Hưng (nay là xã K, thành phố Hải Phòng) đăng ký kết hôn vào năm 1993 theo giấy chứng nhận kết hôn số 022/1993 ngày 25/3/1993. Sau khi đăng ký kết hôn anh chị tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và chung sống hạnh phúc cho đến nay, không có mâu thuẫn gì trầm trọng. Do khi đăng ký kết hôn, anh chị không hiểu rõ quy định của pháp luật nên anh H đã khai trong Giấy chứng nhận kết hôn là anh sinh năm 1973 (nhưng thực chất theo Giấy khai sinh anh H sinh ngày 08/9/1975). Anh H biết là chưa đủ tuổi kết hôn nên đã khai là sinh năm 1973 để đủ tuổi đăng ký kết hôn, anh H xác định anh sinh ngày 08/9/1975 là đúng. Nay UBND xã K yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật, anh chị đề nghị Tòa án công nhận hôn nhân của anh chị kể từ ngày anh H đủ tuổi kết hôn. Anh chị hiện tại có 02 con chung đều đã trưởng thành, anh chị không yêu cầu Toà án giải quyết. Tại phiên họp:
- Người đại diện hợp pháp của UBND xã K vắng mặt, có đơn xin vắng mặt và trình bày: Anh H chưa đủ tuổi kết hôn, đã khai tăng tuổi là vi phạm độ tuổi kết hôn theo quy định. Do đó, UBND xã K giữ nguyên yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật của anh H và chị H1. Trường hợp anh H, chị H1 đề nghị Tòa án công nhận hôn nhân của anh chị kể từ thời điểm anh H đủ tuổi kết hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của anh H, chị H1 trên cơ sở quy định của pháp luật.
- Anh Bùi Văn H và chị Phạm Thị H1 vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt và đề nghị Tòa án giải quyết: Công nhận quan hệ hôn nhân của anh chị kể từ thời điểm anh H đủ tuổi kết hôn (trên cơ sở Giấy đăng ký kết hôn số 022/1993 ngày 25/3/1993 của UBND xã L, huyện K, tỉnh Hải Hưng (nay là xã K, thành phố Hải Phòng).
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Hải Phòng tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Đây là việc dân sự yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án nhân dân khu vực 10 – Hải Phòng thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên họp giải quyết việc dân sự Thẩm phán và Thư ký đã tuân theo đúng quy định của BLTTDS; Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Tòa án căn cứ khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35; điểm g khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, khoản 2, 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 5, 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; Điều 8, Điều 10, khoản 2 Điều 11, Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật phí và lệ phí năm 2015; điểm d khoản 2 Điều 11, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận yêu cầu của UBND xã K, thành phố Hải Phòng về việc hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Bùi Văn H và chị Phạm Thị H1 tại thời điểm đăng ký kết hôn ngày 25/3/1993.
- Công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Bùi Văn H, sinh năm 1975 và chị Phạm Thị H1, sinh năm 1974 đều địa chỉ: Thôn T, xã K, thành phố Hải Phòng kể từ ngày anh H đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật ngày 09/9/1994.
- Về lệ phí: UBND xã K được miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự đã được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng nhận định: [1]. Về thẩm quyền giải quyết yêu cầu: Anh Bùi Văn H, sinh năm 1975 và chị Phạm Thị H1, sinh năm 1974 đều địa chỉ: Thôn T, xã K, thành phố Hải Phòng. UBND xã L, huyện K, tỉnh Hải Hưng (nay là xã K, thành phố Hải Phòng) là nơi đăng ký kết hôn trái pháp luật cho anh H, chị H1. UBND xã K có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 10- Hải Phòng hủy việc kết hôn trái pháp luật, đồng thời quá trình giải quyết, anh H, chị H1 yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân kể từ khi anh H đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Căn cứ khoản 1 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10, 11 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014 yêu cầu này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng.
[2]. Về sự vắng mặt của người giam gia tố tụng: Người đại diện hợp pháp của người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng giải quyết việc dân sự tiến hành phiên họp vắng mặt họ theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về ngày tháng năm sinh của anh H: Tại biên bản lấy lời khai, anh H xác định ngày tháng năm sinh đúng của anh là ngày 08/9/1975. Anh chị làm thủ tục đăng ký kết hôn, UBND xã K đã cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 022/1993 ngày 25/3/1993 cho anh chị. Khi đó anh không đem theo giấy tờ tùy thân, không nhớ chính xác ngày tháng năm sinh, anh H chưa đủ tuổi kết hôn nên anh H khai sinh năm 1973 (cho đủ tuổi kết hôn). Trên cơ sở các giấy tờ tùy thân (Căn cước công dân, giấy khai sinh của anh H), đồng thời căn cứ nội dung UBND xã K xác nhận thông tin của anh H, có đủ cơ sở xác định: Anh Bùi Văn H, sinh năm 1973 ghi trong Giấy đăng ký kết hôn với Bùi Văn H, sinh ngày 08/9/1975 ghi trong CCCD số xxxxxxxxxxxx là một người. [4]. Về nội dung yêu cầu: Anh H, chị H1 xác định anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện K, tỉnh Hải Hưng (nay là xã K, thành phố Hải Phòng) ngày 25/3/1993. Căn cứ ngày tháng năm sinh của anh H, tại thời điểm đăng ký kết hôn, còn anh H mới 17 tuổi 04 tháng 13 ngày, chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định tại Điều 5; Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986. Như vậy, việc kết hôn của anh chị đã vi phạm về độ tuổi kết hôn, UBND xã K không kiểm tra giấy tờ tùy thân đã đăng ký kết hôn cho anh H là trái pháp luật. Do đó, UBND xã K yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 10 – Hải Phòng hủy kết hôn trái pháp luật là có căn cứ. Tuy nhiên, tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, anh H, chị H1 cùng yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân kể từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn. Xét thấy anh H, chị H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, chung sống hạnh phúc từ đó đến nay, đã có 02 con chung. Anh chị đã có đủ các điều kiện kết hôn theo điều 8 Luật hôn nhân và gia đình 2014, yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân của anh chị là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định khoản 2 Điều 11, điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, không cần tuyên hủy kết hôn trái pháp luật mà công nhận quan hệ hôn nhân của H, chị H1 kể từ thời điểm anh H đủ tuổi kết hôn ngày 09/9/1994
[5] Về lệ phí: UBND xã K yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật nên được miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 149 BLTTDS; Luật phí và lệ phí năm 2015; điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[6] Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định tại Điều 371, 372 BLTTDS.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, khoản 2, 3 Điều 367, Điều 371 và Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 5, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; Điều 8, Điều 10, khoản 2 Điều 11, Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật phí và lệ phí năm 2015; điểm d khoản 2 Điều 11, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận yêu cầu của UBND xã K, thành phố Hải Phòng về việc hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Bùi Văn H và chị Phạm Thị H1 theo giấy chứng nhận kết hôn số 022/1993 ngày 25/3/1993 của UBND xã L, huyện K, tỉnh Hải Hưng (nay là xã K, thành phố Hải Phòng).
2. Công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Bùi Văn H, sinh năm 1975 và chị Phạm Thị H1, sinh năm 1974 đều địa chỉ: Thôn T, xã K, thành phố Hải Phòng kể từ ngày anh H đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật ngày 09/9/1994.
3. Lệ phí Tòa án: UBND xã K được miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định này hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết theo quy định của pháp luật.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.
| Nơi nhận - Đương sự; - VKSND khu vực 10 – Hải Phòng; - UBND xã Kim Thành, TP Hải Phòng; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Đỗ Thị Hạnh |