- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Nguyễn Thị T-Nguyễn Doãn C-Yêu cầu tuyên bố một là người đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của chị Nguyễn Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 06/2025/QĐST-VDS Ngày: 25/6/2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một là người đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HÓA¸
-Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên họp: Bà Mai Thị Lý
Thư ký phiên họp: Bà Hà Thị Yến - Thư ký, Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá tham gia phiên họp: Bà Trịnh Thị Thu Lan – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa mở phiên họp sơ thẩm công khai gỉải quyết việc dân sự thụ lý số 04/2025/TLST-VDS ngày 21 tháng 01 năm 2025 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” Theo quyết định mở phiên họp số 04/2025/QĐST-VDS ngày 10 tháng 6 năm 2025 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1978 Nơi cư trú: 12/20/22 đường A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Người bị yêu cầu: Ông Nguyễn Doãn C, sinh năm 1951 Nơi cư trú cuối cùng: SN 18/22 đường A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lê Thị S, sinh năm 1951 Nơi cư trú: SN 18/22 đường A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
2. Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1974 Nơi cư trú: SN 08 đường A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại bản tự khai của người yêu cầu chị Nguyễn Thị T trình bày:
Tôi là con đẻ của ông Nguyễn Doãn C, bà Lê Thị S ở SN 18/22 đường A,
phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Ông C, bà S kết hôn và sinh được hai người con là chị Nguyễn Thị T1 và tôi là Nguyễn Thị T.
Ông Nguyễn Doãn C (bố tôi) đi bộ đội năm 1974, từ năm 1978 cho đến nay gia đình không có tin tức gì về ông Nguyễn Doãn C. Gia đình đã tìm kiếm ông C qua đơn vị bộ đội, qua anh em, bạn bè và trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng vẫn không biết ông C hiện nay đang ở đâu, còn sống hay đã chết. Để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp cho tôi và gia đình, tôi yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa giải quyết tuyên bố ông Nguyễn Doãn C là đã chết theo quy định của pháp luật.
Tại biên bản lấy lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị S trình bày: Tôi là vợ của ông Nguyễn Doãn C, sinh năm 1951. Tôi và ông C kết hôn với nhau đã sinh được hai người con là Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị T. Năm 1974 ông Nguyễn Doãn C đi bộ đội. Năm 1977 ông C về thăm nhà. Từ năm 1978 cho đến nay ông C không liên lạc gì với vợ con và gia đình. Tôi và gia đình đã tìm kiếm ông C qua đơn vị bộ đội, anh em, bạn bè và trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng vẫn không có tin tức gì về ông C hiện nay đang ở đâu, còn sống hay đã chết. Nay chị Nguyễn Thị T yêu cầu Toà án giải quyết tuyên bố ông Nguyễn Doãn C là đã chết tôi đồng ý, tôi đề nghị Toà án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại biên bản lấy lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T1 trình bày: Tôi là con gái của ông Nguyễn Doãn C, bà Lê Thị S. Ông C, bà S kết hôn và sinh được hai người con là chị Nguyễn Thị T và tôi là Nguyễn Thị T1. Năm 1974 ông Nguyễn Doãn C đi bộ đội, đến năm 1978 gia đình không liên lạc được với ông C. Gia đình đã tìm kiếm ông C qua đơn vị bộ đội, anh em, bạn bè và trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng vẫn không có tin tức gì về ông C hiện nay đang ở đâu, còn sống hay đã chết.
Nay chị Nguyễn Thị T yêu cầu Toà án giải quyết tuyên bố ông Nguyễn Doãn C là đã chết tôi đồng ý. Đề nghị Toà án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Theo biên bản xác minh tại địa phương phường Đ, thành phố T, ông Trần Văn B (trưởng phố A) và ông Trần Văn H (bí thư Chi bộ phố A) cho biết:
Ông Nguyễn Doãn C, bà Lê Thị S là vợ chồng và sinh được hai người con gái tên là Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị T. Ông C đi bộ đội từ những năm 1974 đến năm 1978 nghe nói ông C đã chết. Các giấy tờ liên quan đến ông C do mưa bão nên đã thất lạc mất mát, không còn lưu giữ. Địa phương khẳng định chị Nguyễn Thị T là con gái ông Nguyễn Doãn C là đúng.
Nay chị Nguyễn Thị T yêu cầu Toà án giải quyết tuyên bố ông Nguyễn Doãn C là đã chết, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký phiên họp và người yêu cầu tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng phiên hop xét yêu cầu đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, người bị yêu cầu không chấp hành theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án căn cứ điểm b khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự. Điều 393 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận yêu cầu của Nguyễn Thị T về việc yêu cầu Toà án giải quyết tuyên bố ông Nguyễn Doãn C là đã chết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến của các đương sự và Đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp. Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa nhận định:
Về tố tụng: Ông Nguyễn Doãn C có nơi cư trú cuối cùng tại SN 18/22 đường A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Nay chị Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá tuyên bố ông Nguyễn Doãn C là đã chết, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thành phố T, tỉnh Thanh Hóa là đúng theo quy định tại khoản 4 Điều 27 và điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về yêu cầu của chị T: Ông Nguyễn Doãn C đi bộ đội năm 1974, từ năm 1978 đến nay không có tin tức gì. Hiện nay ông C đang ở đâu, còn sống hay đã chết gia đình không biết. Nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố ông Nguyễn Doãn C là đã chết.
Xét thấy, ông Nguyễn Doãn C đã biệt tích từ năm 1978 cho đến nay không có tin tức gì, đã được gia đình, địa phương xác nhận. Mặt khác, chị T và gia đình đã áp dụng các biện pháp thông báo tìm kiếm ông C qua đơn vị quân đội, anh em, bạn bè và trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng vẫn không có tin tức gì về ông Nguyễn Doãn C. Vì chị T không biết ngày tháng cụ thể ông Nguyễn Doãn C biệt tích, gia đình chỉ xác định từ năm 1978 gia đình không có tin tức gì về ông C. Theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 146 Bộ luật dân sự thì được xác định ngày cuối cùng của tháng 12; Do đó khẳng định ông Nguyễn Doãn C có thời gian biệt tích trên 05 năm nên có đủ cơ sở để xác định ngày chết của ông Nguyễn Doãn C là ngày 01/01/1984. Như vậy, trước khi có đơn yêu cầu Toà án giải quyết tuyên bố ông Nguyễn Doãn C là đã chết, chị T đã làm đầy đủ các thủ tục tiền tố tụng theo quy định của pháp luật.
Sau khi thụ lý việc dân sự về “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” đối với ông Nguyễn Doãn C, Toà án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm ông C trên báo nhân dân, Đài tiếng nói Việt Nam 03 kỳ liên tiếp và đăng lên cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân. Thời hạn thông báo 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên (15/02/2025). Đến nay đã hết thời hạn thông báo theo quy định của pháp luật; tuy nhiên ông C không về và cũng không có tin tức gì.
Xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị T: Chị Nguyễn Thị T đề nghị Toà án tuyên bố ông Nguyễn Doãn C đã chết là đúng, phù hợp với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và có đủ căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự; do đó yêu cầu của chị T có cơ sở được Toà án chấp nhận.
Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 6; khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội khoá 14.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 71 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ Khoản 4 Điều 27; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 392 và Điều 393 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 6; khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội khoá 14.
Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của chị Nguyễn Thị T.
1.Tuyên bố một người là đã chết đối với:
Ông Nguyễn Doãn C, sinh năm 1951. Nơi cư trú cuối cùng: Số nhà 18/22 đường A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Thời điểm chết của ông Nguyễn Doãn C là ngày 01/01/1984 Chị Nguyễn Thị T có quyền liên hệ với các Cơ quan chức năng có Thẩm quyền để tiến hành thủ tục khai tử cho ông Nguyễn Doãn C.
2.Các quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản của ông Nguyễn Doãn C được giải quyết như đối với người đã chết theo quy định của Bộ luật dân sự.
3.Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí chị đã nộp là 300.000đồng, theo biên lai thu số 0002168 ngày 17/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá (chị T đã nộp đủ tiền lệ phí).
Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Toà án ra Quyết định; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày; Viện kiểm sát cấp cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Toà án ra Quyết định./. N¬i nhËn:
THÈM PH¸N
- Ng êi yªu cÇu;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- VKSND TP .;
- Chi cục THADSTP.Thanh Hoá;
- UBNĐ,TP .;
- L u hå s¬./.
Mai ThÞ L