- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "LA THI V - NGUYEN THI KIM T"
- Tòa quyết gì? Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 06/2025/QĐST-DS | Thủ Dầu Một, ngày 14 tháng 4 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT,
TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Minh Nga.
Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Kim Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Thuỷ – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 22/2024/TLST-VDS ngày 28 tháng 10 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 06/2025/QĐST-DS ngày 31 tháng 3 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà La Thị V, sinh năm 1957; địa chỉ thường trú: Số B H, Tổ F, Khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1982; nơi cư trú cuối cùng: Số B H, Tổ F, Khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự bà La Thị V trình bày:
Bà La Thị V là mẹ ruột của bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1982; nơi cư trú cuối cùng: Số B H, Tổ F, Khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Từ 6/2003 cho đến nay, bà T đã bỏ nhà đi đâu, làm gì không rõ. Mặc dù, bà V đã tìm kiếm tin tức của bà T nhưng không có kết quả. Bà La Thị V đã trình báo địa phương và đăng tin tìm kiếm trên B nhưng vẫn không có tin tức. Năm 2018, Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã tuyên bố bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1982; nơi cư trú cuối cùng: Số B H, Tổ F, Khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 40/20218/QĐST -VDS, ngày 04/5/2018 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” và cho đến nay vẫn không có tin tức gì của bà T.
Nay để thực hiện thủ tục phân chia di sản thừa kế đối với quyền sử dụng đất nên bà La Thị V yêu cầu Toà án tuyên bố bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1982; nơi cư trú cuối cùng: Số B H, Tổ F, Khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương là người đã chết.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã thực hiện việc thụ lý và giải quyết đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Quá trình giải quyết và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định tại các Điều 369, 392 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
+ Về việc giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Kim T đã bỏ địa phương đi từ năm 2003. Năm 2018, Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã tuyên bố bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1982; nơi cư trú cuối cùng: Số B H, Tổ F, Khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 40/20218/QĐST-VDS, ngày 04/5/2018 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” và cho đến nay vẫn không có tin tức gì của bà T.
Quá trình giải quyết việc dân sự Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đúng theo quy định tại Điều 392 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 71 của Bộ luật Dân sự, yêu cầu của bà La Thị V là có căn cứ, vì vậy đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà La Thị V về việc tuyên bố bà Nguyễn Thị Kim T đã chết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một nhận định:
Về tố tụng:
. Về quan hệ pháp luật: Bà La Thị V yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị Kim T đã chết, nên Toà án xác định quan hệ pháp luật là “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 71 Bộ luật Dân sự.
. Về thẩm quyền: Người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết bà Nguyễn Thị Kim T có địa chỉ cư trú cuối cùng tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Xét yêu cầu giải quyết việc dân sự của người yêu cầu.
. Qua xem xét tài liệu, chứng cứ do bà La Thị V cung cấp thể hiện bà Nguyễn Thị Kim T đã bỏ địa phương đi từ năm 2003. Năm 2018, Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã tuyên bố bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1982; nơi cư trú cuối cùng: Số B H, Tổ F, Khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 40/20218/QĐST-VDS, ngày 04/5/2018 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” và cho đến nay vẫn không có tin tức xác thực là bà T còn sống. Do đó, bà La Thị V yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Kim T đã chết.
Quá trình giải quyết, ngày 18 tháng 11 năm 2024 Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với bà Nguyễn Thị Kim T theo quy định tại Điều 392 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với bà Nguyễn Thị Kim T được đăng trên B trong 03 số liên tiếp (số C, 314, 315 trong các ngày 26, 27, 28 tháng 11 năm 2024) và phát sóng trên Trung tâm T1 VTV9 ba lần trong ba ngày liên tiếp (từ ngày 01/12/2024 đến ngày 03/12/2024). Tính đến thời điểm hiện nay, đã quá thời hạn 04 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên nhưng bà T không liên hệ với Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một và cũng không có ai thông báo cho Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tin tức về bà Nguyễn Thị Kim T.
Năm 2018, Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã tuyên bố bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1982; nơi cư trú cuối cùng: Số B H, Tổ F, Khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 40/20218/QĐST-VDS, ngày 04/5/2018 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”. Xét thấy, sau 03 năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Toà án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống.
Vì vậy, việc bà La Thị V yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Kim T sinh năm 1982; nơi cư trú cuối cùng: Số B H, Tổ F, Khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương đã chết là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 71 Bộ luật Dân sự nên Tòa án chấp nhận.
Xác định ngày chết của bà Nguyễn Thị Kim T: Căn cứ Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 71 của Bộ luật Dân sự thì Quyết định giải quyết việc dân sự số 40/20218/QĐST-VDS, ngày 04/5/2018 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” đối với bà Nguyễn Thị Kim T có hiệu lực kể từ ngày 11/6/2018 (theo Trích lục quyết định giải quyết việc dân sự số 19/2018/TLQĐ-VDS ngày 11/6/2018). Như vậy, ngày chết của bà Nguyễn Thị Kim T được xác định là sau 03 năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Toà án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, nên Tòa án xác định ngày chết của bà Nguyễn Thị Kim T là ngày 12/6/2021.
Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết: Theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật Dân sự, khi quyết định của Toà án tuyên bố một người đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của bà Nguyễn Thị Kim T được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của bà Nguyễn Thị Kim T được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của bà Nguyễn Thị Kim T được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết việc dân sự là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Tòa án.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Căn cứ Điều 149 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà La Thị V là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 và điểm a khoản 2 Điều 40, các Điều 149, 361, 367, 369, 370, 371, 372, 391, 392, 393 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà La Thị V về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết.
Tuyên bố bà Nguyễn Thị Kim T sinh năm 1982; nơi cư trú cuối cùng: Số B H, Tổ F, Khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương là đã chết kể từ ngày 12 tháng 6 năm 2021.
Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của bà Nguyễn Thị Kim T được giải quyết như đối với người đã chết, tài sản của Nguyễn Thị Kim T được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà La Thị V được miễn nộp lệ phí.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Toà án ra Quyết định. Trường hợp không có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự thì kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND Tp. Thủ Dầu Một; - Chi cục THADS Tp. Thủ Dầu Một; - UBND phường P, TP. T, tỉnh Bình Dương; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Minh Nga |