vanban.org

Quyết định 06/2025/QĐDS-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ông Nguyễn Văn Q

Tuyên bố bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960, nơi cư trú cuối cùng: xóm Tân Long, xã Tân Hương, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (nay là TDP Tân Long, phường Vạn Xuân, tỉnh Thái Nguyên) là đã chết. Thời điểm chết của bà Nguyễn Thị H được xác định là ngày 02/01/2004. Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ông Nguyễn Văn Q
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2025/QĐDS – VDSThái Nguyên, ngày 31 tháng 12 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÁI NGUYÊN

Thành phần giải quyết việc dân sự sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Hà Thị Bích Ngọc

- Thư ký phiên họp: Bà Đào Hồng Thanh – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 – Thái Nguyên.

- Đại diện VKSND Khu vực 2 - Thái Nguyên tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2- Thái Nguyên mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2025/TLST- VDS ngày 17 tháng 7 năm 2025 về việc yêu cầu “Tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 05/2025/QĐST – VDS ngày 15 tháng 12 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1957

HKTT: TDP Tân Long, phường Vạn Xuân, tỉnh Thái Nguyên.

- Người bị yêu cầu: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960

Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: xóm Tân Long, xã Tân Hương, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (nay là TDP Tân Long, phường Vạn Xuân, tỉnh Thái Nguyên)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1980

2. Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1983

3. Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1985

Cùng HKTT: TDP Tân Long, phường Vạn Xuân, tỉnh Thái Nguyên.

( có mặt ông Q, chị Ph; vắng mặt bà H, chị L, anh D – Chị L, anh D có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và các lời khai tiếp theo tại Toà án, người yêu cầu ông Nguyễn Văn Q trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị H kết hôn vào năm 1979 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Hương (nay là UBND phường Vạn Xuân, tỉnh Thái Nguyên). Sau khi kết hôn ông bà sinh sống và làm việc tại xóm Tân Long, xã Tân Hương (nay là Tổ dân phố Tân Long, phường Vạn Xuân), tỉnh Thái Nguyên. Vợ ông trước khi kết hôn làm cô giáo mầm non tại trường mầm non xã Tân Hương, sau khi kết hôn thì làm việc tại trạm xá xã Tân Hương. Đến năm 1998 vợ ông sau khi nghỉ việc ở trạm xá xã Tân Hương. Ở nhà được một thời gian thì bỏ nhà đi không để lại thư từ hay dặn dò các thành viên trong gia đình.

Năm 2006 ông có làm đơn gửi lên Tòa án nhân dân huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (nay là TAND khu vực 2 – Thái Nguyên) để làm thủ tục tìm người mất tích. Hồ sơ của ông được Tòa án nhân dân huyện Phổ Yên tiếp nhận và giải quyết xử lý đến bước đăng tin lên truyền hình và báo đài nhưng do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn một mình nuôi ba con ăn học, ông không còn đủ điều kiện kinh tế để đăng tin lên truyền hình, báo đài sau đó ông có làm đơn xin tạm dừng hồ sơ tại đây.

Từ khi ông làm đơn lên Tòa án nhân dân huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (nay là TAND khu vực 2 – Thái Nguyên) để làm thủ tục tìm người mất tích. Cho đến nay, gia đình ông vẫn không ngừng đi tìm kiếm thông tin về bà Nguyễn Thị H nhưng cũng không có bất kỳ ai liên lạc với gia đình ông để cung cấp thông tin của bà H. Hiện nay bố mẹ đẻ của bà Nguyễn Thị H đều đã mất, người thân còn lại của bà H chỉ còn các anh chị em ruột, chồng và các con. Từ khi bỏ đi biệt tích cho đến nay, gia đình ông vẫn không có thông tin gì của bà H, không rõ bà H còn sống hay đã chết. Do các con đều đã trưởng thành, ông muốn làm thủ tục tách đất cho các con và làm các công việc khác nhưng do bà H vắng mặt tại địa phương nên không thể làm thủ tục được. Ông đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960, nơi cư trú cuối cùng: xóm Tân Long, xã Tân Hương, (nay là Tổ dân phố Tân Long, phường Tân Hương) thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã chết theo quy định của pháp luật. Tại phiên họp, ông vẫn giữ nguyên yêu cầu trên. Đề nghị Hội đồng giải quyết việc Dân sự chấp nhận cho gia đình ông để ông tiến hành các thủ tục được thuận tiện.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Ph, chị Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Văn D thống nhất với lời trình bày của ông Q, các anh chị xác định bà H đã biệt tích khỏi địa phương từ năm 1998 cho đến nay. Mặc dù gia đình đã tìm kiếm, hỏi han tin tức của mẹ khắp nơi nhưng cho đến nay vẫn không có tin tức gì của mẹ. Trước khi bỏ đi biệt tích, bố mẹ không có mâu thuẫn gì cũng không có khúc mắc nợ nần gì với ai cả. Cho đến nay, bố các anh chị là ông Q yêu cầu Tòa án tuyên bố mẹ là bà Nguyễn Thị H đã chết để giải quyết công việc gia đình, phân chia đất đai cho các con, anh chị đều nhất trí,đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho gia đình.

Sau khi thụ lý, Toà án đã tiến hành xác minh với bà Nguyễn Thị Ph – Tổ trưởng TDP Tân Long, được cung cấp thông tin: bà làm công tác trưởng xóm (tổ trưởng TDP) từ năm 2009 cho đến nay, tuy nhiên do là người cùng xóm nên bà có biết bà Nguyễn Thị H từ thời điểm bà H còn làm công tác tại Trạm y tế xã Tân Hương. Bà H là vợ của ông Nguyễn Văn Q, là công dân của xóm Tân Long (nay là TDP Tân Long), ông bà cùng sinh sống tại địa phương và đã có 03 người con chung là chị Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1980, chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1983 và Nguyễn Văn D, sinh năm 1985. Bà H đã vắng mặt tại địa phương từ năm 1998 cho đến nay không có tin tức gì. Không ai biết bà H hiện nay còn sống hay đã chết. Từ khi bà tiếp nhận công tác trưởng xóm cho đến nay, các khoản thu nộp của địa phương đều do ông Q nộp. Khi các con lập gia đình, một mình ông Q tự lo liệu, bà H tuyệt nhiên không có tin tức gì. Tại TDP Tân Long hiện tại chỉ có ông Q và các con sinh sống. Cho đến nay, bà H cũng không lần nào quay về địa phương. Do vậy đối với yêu cầu của ông Q, đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết.

Tại biên bản làm việc ngày 17/7/2025, các anh em ruột của bà H là ông Nguyễn Hữu V, Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn Q, các ông trình bày: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960 là em, chị gái của các ông. Bà H xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Q năm 1979 sau đó thì chuyển về xóm Tân Long (nay là TDP Tân Long) sinh sống và đã sinh được 03 người con. Bà H làm việc tại Trung tâm y tế xã Tân Hương. Đến thời điểm năm 1998, các ông không nhớ ngày tháng cụ thể, bà H bỏ đi khỏi gia đình, trước khi đi cũng không nói với anh em trong gia đình là bà đi đâu, làm gì. Từ đó cho đến nay không liên hệ về với gia đình ông Q cũng như anh em trong gia đình ông. Kể cả khi bố mẹ các ông qua đời vào năm 2002 và 2018 thì bà H cũng không về để chịu tang. Ông Q và các con từ đó cho đến nay vẫn không ngừng tìm kiếm hỏi han tin tức của bà H nhưng bà H vẫn bặt vô âm tín, không có thông tin gì về việc còn sống hay đã chết.

Đến nay ông Q có đơn yêu cầu tuyên bố một người đã chết với bà Hâu, các ông không có ý kiến gì, Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết yêu cầu của ông Q.

Tai biên bản xác minh với Công an phường Vạn Xuân thể hiện: Qua tra cứu phần mềm quản lý dữ liệu dân cư quốc gia của ông an phường Vạn Xuân thể hiện hộ gia đình ông Nguyễn Văn Q số định danh của chủ hộ 019057000578, tên chủ hộ Nguyễn Văn Q. Nơi thường trú: TDP Tân Long, phường Vạn Xuân, tỉnh Thái Nguyên. Tổng cộng có 10 nhân khẩu trong hộ, không có tên bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960 trong hộ của ông Nguyễn Văn Q. Hiện nay bà Nguyễn Thị H không có mặt tại địa phương.

Trên cơ sở xác minh, ngày 20/5/2025, Toà án nhân dân khu vực 2 – Thái Nguyên đã ra thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với bà Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: xóm Tân Long, xã Tân Hương, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (nay là TDP Tân Long, phường Vạn Xuân, tỉnh Thái Nguyên). Thông báo tìm kiếm đã được đăng tin tại báo Công lý số 63,64,65 ra ngày 06/8, 08/8 và 13/8/2025, phát trên VOV2, 15-16h các ngày 12,13,14/8/2025, đăng tin tìm kiếm tại Trung tâm thông tin tỉnh Thái Nguyên, trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án tối cao.

Kết quả xác minh của Toà án với chính quyền địa phương, gia đình ông Q, các anh em của bà H cho thấy từ khi Toà án tiến hành thủ tục đăng tin tìm kiếm bà Nguyễn Thị H theo quy định pháp luật, từ đó đến nay, vẫn không có tin tức gì của bà H, chính quyền địa phương, gia đình cũng không thấy ai liên lạc để cung cấp thông tin của ông Trình.

Tại biên bản xác minh với công an phường Vạn Xuân thể hiện: Bà H là vợ của ông Nguyễn Văn Q. Bà H vắng mặt tại địa phương từ năm 1998 cho đến nay không có tin tức gì. Tại hời điểm thu thập dữ liệu dân cư Quốc gia, bà H không có mặt tại địa phương nên trên cơ sở dữ liệu dân cư Quốc Gia không thu thập được thông tin của bà H. Hiện nay bà H vẫn biệt tích khỏi địa phương, không có thông tin về việc bà H đang ở đâu. Qua tra cứu dữ liệu dân cư Quốc Gia hiện đang quản lý tại Công an phường VX không có thông tin của bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960.

Tại phiên họp đại diện VKS phát biểu ý kiến:

* Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết việc dân sự đã thực hiện quy định tại Điều 48 BLTTDS về thụ lý vụ án, triệu tập đương sự, tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ. Xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền thụ lý, theo quy định tại Điều 27, 35 BLTTDS; Điều 68 về xác định tư cách tham gia tố tụng; Điều 363 BLTTDS về thủ tục nhận, xử lý đơn yêu cầu; Điều 96, 97 về việc xác minh, thu thập chứng cứ; Điều 365 BLTTDS về việc thụ lý, giao nhận thông báo thụ lý việc dân sự cho đương sự và Viện kiểm sát; Điều 366, 388 về các thủ tục chuẩn bị xét đơn yêu cầu. Về thời hạn chuyển giao hồ sơ và gửi Quyết định mở phiên họp cho VKS cùng cấp nghiên cứu đã thực hiện đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 366 BLTTDS.

* Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký tại phiên họp.

Hội đồng giải quyết việc Dân sự, Thư ký phiên họp đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS và Thông tư số 01/2016 về việc xét sơ thẩm việc Dân sự

* Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70,73 BLTTDS.

2. Về nội dung: Căn cứ Điều 27,35,39, 391,393 BLTTDS; điểm d khoản 1 Điều 71 BLDS đề nghị Hội đồng giải quyết việc Dân sự chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Văn Q về việc “Tuyên bố bà Nguyễn Thị H đã chết”.

Lệ phí: ông Q là người cao tuổi, được miễn lệ phí giải quyết việc Dân sự theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện VKS tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 2 – Thái Nguyên nhận định:

. Quyền yêu cầu: ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị H kết hôn năm 1979, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Hương (nay là UBND phường Vạn Xuân, tỉnh Thái Nguyên). Căn cứ khoản 1 Điều 391 Bộ luật tố tụng dân sự, Ông Q có quyền yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị H là đã chết.

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Đây là việc dân sự về yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của ông Nguyễn Văn Q đối với bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960,nơi cư trú cuối cùng xóm Tân Long, xã Tân Hương (nay là TDP Tân Long, phường Vạn Xuân), tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ khoản 4 Điều 27, Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự xác định thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Thái Nguyên.

Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên họp vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị L, anh D - đã có đơn xin được vắng mặt tại phiên họp. Xét thấy rằng, những người này đã có đầy đủ lời khai thể hiện trong hồ sơ, việc vắng mặt những người này không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết việc dân sự; Tòa án nhân dân khu vực 2 – Thái Nguyên căn cứ các khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vẫn tiến hành phiên họp theo thủ tục chung.

. Về yêu cầu của đương sự:

Ông Nguyễn Văn Q có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết đối với bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960, nơi cư trú cuối cùng: xóm Tân Long, xã Tân Hương, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (nay là TDP Tân Long, phường Vạn Xuân, tỉnh Thái Nguyên). Xét yêu cầu của ông Q thấy rằng:

Ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị H kết hôn năm 1979 và đã có 03 người con chung là Chị Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1980; Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1983 và Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1985. Gia đình ông bà làm ăn, sinh sống tại xóm Tân Long, xã Tân Hương, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (nay là TDP Tân Long, phường Vạn Xuân, tỉnh Thái Nguyên). Quá trình chung sống hòa thuận, vợ chồng không phát sinh mâu thuẫn cũng như nợ nần về kinh tế đối với ai. Sau khi bà H nghỉ việc tại Trung tâm y tế xã thì có ở nhà một thời gian, đến năm 1998, không rõ ngày , tháng cụ thể, không hiểu vì lý do gì, bà H bỏ nhà đi biệt tích từ đó cho đến nay. Trước khi đi, bà H không nói cho ai biế bà đi đâu, làm gì và từ thời điểm đó, bà không trở về địa phương. Các anh em ruột của bà H cũng đều xác định, bà H đã bỏ nhà đi từ năm 1998 cho đến nay không có tin tức gì về gia đình. Cả cả khi bố mẹ đẻ của bà H qua đời năm 2002 và năm 2008 thì bà H cũng không về để chịu tang bố mẹ. Ở địa phương hiện tại chỉ còn có ông Q và các con sinh sống. Mọi khoản tu nộp ở địa phương đến xây dựng gia đình cho các con đều một tay ông Q lo liệu. Mặc dù từ thời điểm bà H bỏ đi, gia đình ông Q và các con cũng đi khắp nơi để hỏi han tin tức về bà H nhưng bà H vẫn bặt vô âm tín, không có thông tin xác thực nào về việc bà H còn sống hay đã chết.

Xét thấy rằng, bà H đã biệt tích khỏi địa phương đến nay là đã 27 năm. Mặc dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết, Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm bà H trên các phương tiện thông tin đại chúng như Báo Công Lý, Đài VOV,Trung tâm thông tin tỉnh Thái Nguyên, trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án tối cao theo quy định pháp luật. Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức gì của bà H xác thực là còn sống. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi cho ông Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phương, chị L, anh D, cần chấp nhận yêu cầu của ông Q về việc tuyên bố bà Nguyễn Thị H là đã chết là phù hợp với quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự.

Về việc xác định ngày chết của bà Nguyễn Thị H:

Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 71, Điều 148 Bộ luật Dân sự năm 2015, mục 5 phần IV Công văn số 163/TANDTC PC ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân tối cao v/v giải đáp một số vướng mắc trong xét xử thì ngày chết của bà H được xác định là 05 năm tính từ thời điểm biết được tin tức cuối cùng về bà H. Do chỉ xác định được thời điểm có tin tức cuối cùng về bà H là vào năm 1998 mà không xác định được cụ thể ngày, tháng có tin tức cuối cùng về bà H, nên thời hạn 05 năm này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng về bà H, tức là 05 năm tính từ ngày 01/01/1999. Như vậy, bà H được xác định là đã chết vào ngày 02/01/2004.

Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của bà Nguyễn Thị H. Căn cứ Điều 72 Bộ luật Dân sự, kể từ khi quyết định của Tòa án tuyên bố bà H là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của bà H được giải quyết như đối với người đã chết; quan hệ tài sản của bà H được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của bà H được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

. Về Lệ phí: Ông Q là người cao tuổi, được miễn lệ phí việc dân sự theo quy định pháp luật.

. Quyền kháng cáo và kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo quyết định theo quy định của phát luật tố tụng dân sự; VKS nhân dân cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị Quyết định theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Thái Nguyên tại phiên họp sơ thẩm là có căn cứ, nên được chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 27, Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 150, Điều 361, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 391, Điều 392, Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 68, Điều 71, Điều 72, Điều 148 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Công văn số 163/TANDTC PC ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân tối cao

1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ông Nguyễn Văn Q

Tuyên bố bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960, nơi cư trú cuối cùng: xóm Tân Long, xã Tân Hương, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (nay là TDP Tân Long, phường Vạn Xuân, tỉnh Thái Nguyên) là đã chết. Thời điểm chết của bà Nguyễn Thị H được xác định là ngày 02/01/2004.

2. Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của bà Nguyễn Thị H: Kể từ khi quyết định của Tòa án tuyên bố bà H là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của bà H được giải quyết như đối với người đã chết; quan hệ tài sản của bà H được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của bà H được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế

Khi bà H trở về hoặc có tin tức xác thực là bà H còn sống thì bà H hoặc người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố bà H là đã chết theo quy định tại Điều 73 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 4 Điều 27, Điều 394 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Văn Q được miễn nộp tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc Dân sự.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự:

Ông Q, chị Ph có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo Quyết định trong hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Các đương sự vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo Quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày Quyết định được thông báo, niêm yết công khai hợp lệ theo quy định. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên có quyền kháng có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Cỡ chữ