vanban.org

Quyết định 06/2025/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi bổ sung năm 2020);

Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/202 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma tuý, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Cao Xuân Th. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Cao Xuân Th"
  • Tòa quyết gì? Điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi bổ sung năm 2020);
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8-LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2025/QĐ-TALâm Đồng, ngày 30 tháng 9 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG

- Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Bá Luân.

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Vân Anh.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 05/2025/QĐ-TA ngày 24 tháng 9 năm 2025 đối với:

Họ và tên: Cao Xuân Th, sinh năm 1998; Căn cước công dân số: 067098002902; ngày cấp: 28/10/2024, nơi cấp: CCSQLHC về TTXH; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo, nơi cư trú: Thôn Th, xã Th, tỉnh Lâm Đồng; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; tiền án; tiền sự: Không; con ông Cao Xuân Ch và bà Phạm Thị Kim L, sinh năm 1971 (vắng mặt tại phiên họp).

- Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Cao Cường – Trưởng Công an xã Th, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).

2. Đại diện Viện kiểm sát: Ông Phạm Thạch Huy – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông (có mặt).

NHẬN THẤY:

Vào ngày 28/08/2025, Cao Xuân Th có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại thôn Th, xã Th, tỉnh Lâm Đồng. Đến ngày 05/09/2025 phát hiện đối tượng có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy, Công an xã Th đã đưa đối tượng về trụ sở Công an xã để làm việc và tiến hành kiểm tra chất ma túy. Kết quả Cao Xuân Th dương tính với ma túy (MET), đồng thời lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Ngày 05/09/2025, Công an xã Th đã đề nghị Trung tâm y tế khu vực Đắk Mil xác định tình trạng nghiện ma tuý đối với Cao Xuân Th; ngày 10/09/2025 Trung tâm y tế khu vực Đắk Mil, tỉnh Lâm Đồng xác định Cao Xuân Th nghiện với chất ma tuý (MET).

Ngày 10/9/2025 đối tượng Cao Xuân Th đã được Công an xã Th thông báo đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế nhưng trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được cơ quan có thẩm quyền xác định, thông báo là nghiện ma túy mà Cao Xuân Th không đăng ký cai nghiện tự nguyện, không đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp:

Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị: Giữ nguyên quan điểm như Công văn số 28/ĐN-CNBB, ngày 24/9/2025, đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng đưa đối tượng Cao Xuân Th, sinh năm 1998; Căn cước công dân số: 067098002902; ngày cấp: 28/10/2024, nơi cấp: CCSQLHC về TTXH; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo, nơi cư trú: Thôn Th, xã Th, tỉnh Lâm Đồng; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Lao động tự do đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 04, tỉnh Lâm Đồng, địa chỉ: Bon Bu Mlanh B, xã T, tỉnh Lâm Đồng với thời hạn cai nghiện bắt buộc từ 12 đến 24 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính:

Qua nghiên cứu, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên họp về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tòa án và những người tham gia phiên họp, xét thấy: Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật, việc thụ lý, giải quyết hồ sơ đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Căn cứ các Điều 95, Điều 96, Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật phòng chống ma tuý năm 2021; Điều 3, Điều 40 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 đề nghị Tòa án: Áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Cao Xuân Th, thời hạn cai nghiện bắt buộc là từ 18 đến 24 tháng. Chấp nhận đề nghị của Công an xã Th, tỉnh Lâm Đồng.

XÉT THẤY:

Trên cơ sở nội dung hồ sơ, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên họp, Tòa án nhận định như sau:

. Về trình tự, thủ tục: Hồ sơ đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” của Công an xã Th, tỉnh Lâm Đồng đối với người bị đề nghị Cao Xuân Th là phù hợp và tuân thủ đúng các quy định tại Điều 103, Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính, sửa đổi bổ sung năm 2020. Hồ sơ đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính phù hợp và tuân thủ đúng các quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 và Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma tuý, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý.

. Về nguyên tắc, đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính: Hồ sơ đã tuân thủ đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 3; khoản 2 Điều 5 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính tuân thủ đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính. Về thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính cũng đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 103, Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính.

. Xét tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Vào ngày 28/08/2025, Cao Xuân Th có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đến ngày 05/09/2025 phát hiện đối tượng có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy, Công an xã Th lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đề nghị Trung tâm y tế khu vực Đắk Mil xác định tình trạng nghiện ma tuý đối với Cao Xuân Th; kết quả xác định Cao Xuân Th nghiện với chất ma tuý (MET). Tuy nhiên, Cao Xuân Th không tự nguyên đi cai nghiện theo thông báo của cơ quan có thẩm quyền.

Trên cơ sở đó cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành xác minh, thực hiện đầy đủ các thủ tục được quy định tại Điều 40, 41, 42, 43 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021, Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020; Điều 7, 8, 11 của Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025. Như vậy, hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Cao Xuân Th là có căn cứ. Xét ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng là có căn cứ nên cần chấp nhận.

. Về thời gian áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Xét đề nghị của Công an xã Th, tỉnh Lâm Đồng đề nghị áp dụng thời gian cai nghiện bắt buộc đối với Cao Xuân Th từ 12 tháng đến 24 tháng; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng thời gian cai nghiện bắt buộc đối với Cao Xuân Th là 18 đến 24 tháng là phù hợp, đủ để giúp đối tượng cai nghiện, tham gia lao động, học tập và sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục của cơ sở cai nghiện bắt buộc.

. Xét tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ: Không.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy;

Điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi bổ sung năm 2020);

Điều 3, Điều 8, Điều 17, Điều 21, Điều 23, Điều 24, Điều 30, Điều 31, Điều 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/202 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma tuý, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Cao Xuân Th.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 02 (hai) năm, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Cao Xuân Th có quyền khiếu nại; Công an xã Th, tỉnh Lâm Đồng có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng có quyền kháng nghị đối với quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị là 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Trường hợp vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn khiếu nại là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an xã Th, tỉnh Lâm Đồng; Phòng PC 04, Công an tỉnh Lâm Đồng và Cơ sở cai nghiện ma túy số 04, tỉnh Lâm Đồng; Địa chỉ: Bon Bu Mlanh B, xã T, tỉnh Lâm Đồng có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ