- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi - Lê Thị H - Lê Thị T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Lê Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 23 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 06/2024/QĐST-DS | Thanh Bình, ngày 22 tháng 7 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người
có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Dương Thị Thùy Trang.
Thư ký phiên họp: Ông Phan Văn Phụng – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Chí Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 04/2024/TLST-DS, ngày 20 tháng 6 năm 2024 về việc yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 03/2024/QĐST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Lê Thị H, sinh năm 1989.
Địa chỉ HKTT: Số C ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ cư trú hiện nay: Số C, ấp Đ, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Lê Thị T, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Số F, ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Có mặt.
2. Anh Lê Phú T1, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Số F, ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu ngày 20 tháng 5 năm 2024, lời trình bày trong quá trình giải quyết việc dân sự và tại phiên họp, người yêu cầu giải quyết việc dân sự chị Lê Thị H trình bày:
Ông Lê Quang M (chết năm 2021) và bà Bùi Thị N (chết năm 2009) có 04 người con, nhưng người con đầu tiên đã chết lúc 05 tuổi, nên chỉ còn lại 03 người con là anh Lê Phú T1, chị Lê Thị T và chị Lê Thị H. Khi ông M còn sống thì chị T sống chung với ông M, khi ông M chết thì chị T sống cùng anh Lê Phú T1 tại nhà ông M để lại. Tuy nhiên, chị T vẫn có đến nhà chị H sinh sống mỗi tháng 1-2 lần, mỗi lần thì ở vài ngày. Từ năm 2003 thì chị T đã bị bệnh tâm thần phân liệt, có biểu hiện khó ngủ, hay quên, khó chịu trong người, có đập phá đồ đạc, tự đánh chính mình, phải uống thuốc điều trị đến nay.
Chị Lê Thị H yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Lê Thị T, sinh năm 1981. Địa chỉ: Số F, ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Đồng thời, chị H yêu cầu Tòa án chỉ định chị H là người giám hộ của chị T theo quy định pháp luật; để chị H làm thủ tục chia thừa kế đối với di sản do ông M chết để lại.
Tại phiên họp, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị T trình bày:
Chị Lê Thị T là chị ruột của chị H. Chị T không có chồng, con và đã bị bệnh, điều trị bệnh từ lâu; chị T thường xuyên bị mất ngủ, hay quên. Chị T thống nhất việc Tòa án tuyên bố chị T là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, đồng ý để chị Lê Thị H làm người giám hộ cho chị T trong trường hợp Tòa án tuyên bố chị T là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Theo văn bản ý kiến ngày 01 tháng 7 năm 2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Phú T1 trình bày:
Anh Lê Phú T1 là anh ruột và đang sống cùng chị Lê Thị T tại số F, ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Chị T có bệnh tâm thần phân liệt từ lâu và đang được điều trị tại nhà.
Nay anh T1 thống nhất với toàn bộ yêu cầu của chị Lê Thị H về việc yêu cầu tuyên bố chị T là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; đồng thời, anh T1 thống nhất để chị H là người giám hộ cho chị T.
Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết việc dân sự đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Chủ tọa phiên họp và Thư ký phiên họp: Thẩm phán chủ tọa phiên họp và Thư ký phiên họp đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu của chị Lê Thị H. Tuyên bố chị Lê Thị T, sinh năm: 1981; Địa chỉ: Ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Chỉ định chị Lê Thị H, sinh năm: 1989; Địa chỉ HKTT: Số C ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Địa chỉ cư trú hiện nay: Số C, ấp Đ, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp là người giám hộ cho chị Lê Thị T; chị Lê Thị H có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp nhận định:
Về tố tụng:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 20/5/2024 của chị Lê Thị H và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện quan hệ pháp luật là “Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” theo quy định tại khoản 1 Điều 27 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Chị Lê Thị T có nơi cư trú tại ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung yêu cầu:
Xét yêu cầu của chị Lê Thị H yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Lê Thị T là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Chị Lê Thị T là chị ruột của chị Lê Thị H. Từ năm 2003 đến nay, chị T có biểu hiện mắc bệnh tâm thần, thường xuyên mất ngủ, hay quên. Gia đình có đưa chị T đi điều trị bệnh; hiện nay bệnh có thuyên giảm nhưng không khỏi hẳn. Chị T hiện đang được hưởng trợ cấp hàng tháng tại địa phương.
Tại khoản 1 Điều 23 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi như sau: “Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.”
Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 281/2024/KLGĐ ngày 04/7/2024 của Trung tâm P đối với chị Lê Thị T kết luận như sau: a) Kết luận theo tiêu chuẩn y học: Hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Tâm thần phân liệt thể không biệt định (F20.3 – ICD10), giai đoạn bệnh thuyên giảm. b) Kết luận về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi: Hiện tại, đương sự hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi (có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi ở các vụ việc dân sự), do ở giai đoạn bệnh thuyên giảm. Về năng lực: Hiện tại, đương sự có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Từ những căn cứ nêu trên, xét đơn yêu cầu của chị Lê Thị H yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Lê Thị T là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.
Xét yêu cầu chỉ định chị Lê Thị H làm người giám hộ cho chị Lê Thị T.
Theo trình bày của người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì cha mẹ của chị T đã chết, chị T không có chồng, con. Hiện nay, chị T đang sống chung với anh T1, nhưng chị H vẫn thường xuyên thăm nom, chăm lo cho chị T; chị T vẫn thường xuyên ghé nhà chị H. Anh T1 đồng ý để chị H là người giám hộ cho chị T. Do đó, xét yêu cầu của chị H là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 49 và Điều 54 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên chấp nhận.
Đối với ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu của chị Lê Thị H yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Lê Thị T là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định chị Lê Thị H là người giám hộ cho chị Lê Thị T, cũng như xác lập quyền, nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định pháp luật là có căn cứ nên chấp nhận.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Lê Thị H phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 23, Điều 47, Điều 48, Điều 49, Điều 54, Điều 57 và Điều 58 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 376 và Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Lê Thị H.
Tuyên bố chị Lê Thị T, sinh năm: 1981; Địa chỉ: Ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Chỉ định chị Lê Thị H làm người giám hộ cho chị Lê Thị T. Chị Lê Thị H có các quyền và nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định pháp luật.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Lê Thị H phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0006942 ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp. Chị Lê Thị H đã nộp đủ tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Thanh Bình; - Người yêu cầu; - Người có QL. NV liên quan; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Dương Thị Thùy Trang |