vanban.org

Quyết định 06/2024/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 03/01/2024 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/01/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Tuyết M.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 103/2023/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Tuyết M về việc yêu cầu ông Giang Văn B bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm. Buộc ông B bồi thường cho bà M số tiền 1.0… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Lê Tuyết M - Giang Văn B"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Tuyết M.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/DS-PT
Ngày 03 – 01– 2024
V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại về
tài sản, danh dự, nhân phẩm”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Trung

Các Thẩm phán:

Bà Châu Minh Hoàng

Ông Dương Hùng Quang

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Công Tấn -Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà

Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Từ Thanh Thùy – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 503/2023/TLPT-DS ngày 17 tháng 11 năm 2023 về việc tranh chấp bồi thường thiệt hại về tài sản, danh dự, nhân phẩm.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 103/2023/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 337/2023/QĐ-PT ngày 06 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

Bà Lê Tuyết M, sinh năm 1952.

Địa chỉ cư trú: Ấp 9, xã T, huyện T, tỉnh C . (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà M: Ông Tăng Tấn Lập -Luật sư thực hiện Trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà Nước tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn:

Ông Giang Văn B, sinh năm 1978.

Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh C . (vắng mặt).

- Người kháng cáo: Ông Bà Lê Tuyết M là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Lê Tuyết M trình bày:

Bà M có thỏa thuận thuê ông Giang Văn B sửa nhà cho bà M, thuê với hình thức trả tiền công theo ngày, mỗi ngày bằng 300.000 đồng. Ông B là thợ xây chính, sửa nhà theo yêu cầu của bà M. Nhưng do ông B xây cây kèo bị sập làm hư hỏng tài sản của bà M. Nay bà M yêu cầu ông B bồi thường thiệt hại do ông B sửa nhà cho bà M làm sập cây kèo làm thiệt hại tài sản của bà M với số tiền là 8.787.000 đồng (theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ đối với các tài sản bị thiệt hại lập ngày 22/6/2021 và kết quả định giá do Công ty cổ phần thẩm định định giá Thuận Việt lập ngày 15/8/2022). Bà M thống nhất với kết quả định giá lập ngày 15/8/2022.

Ngoài ra, ông B còn nói xấu bà M (sau khi cây kèo bị sập đôi bên phát sinh tranh chấp) làm mất uy tín, danh dự, nhân phẩm của bà M. Vì vậy, bà M còn yêu cầu ông B bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín bằng 12 tháng lương cơ sở theo quy định của Nhà nước với số tiền là 17.880.000 đồng.

Đối với sự việc ông B làm sập cây kèo của bà M thì có bà Phượng (là người bà M thuê làm cỏ) và ông Hùng (là người do bà M thuê dán gạch) biết và chứng kiến. Đối với họ, tên và địa chỉ của bà Phượng và ông Hùng thì bà M không biết rõ, vì bà M tình cờ gặp hai người này nên thuê làm cỏ và dán gạch cho bà. Bà M gặp bà Phượng trên xe buýt, còn ông Hùng là người giao hàng đến nhà bà M giao ống nước nên bà M nói sự việc cần thuê người và hai người đến làm thuê theo ngày (khoảng 06 ngày) cho bà M. Vì vậy bà M không cung cấp được địa chỉ của ông Hùng và bà Phượng theo yêu cầu của Tòa án. Ngoài ra, theo bà M thì khi sự việc cây kèo bị sập tại nhà bà M vào ngày 28/12/2019 âm lịch có chính quyền địa phương đến lập biên bản.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà M không thống nhất với chứng thư thẩm định giá tài sản và yêu cầu ông B bồi thường số tiền 42.750.000 đồng, trong đó yêu cầu bồi thường về tài sản số tiền 27.850.000 đồng, yêu cầu bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm là 10 tháng lương cơ sở bằng số tiền 14.900.000 đồng.

- Bị đơn ông Giang Văn B trình bày:

Ông B có nhận sửa nhà theo yêu cầu của bà M, ông B là thợ xây chính, công việc nhận làm theo từng việc cụ thể theo chỉ định của bà M mà không thỏa thuận làm trọn gói, cuối ngày bà M nghiệm thu công việc của cả ngày và trả công dứt điểm của ngày đó. Khi ông B xây cây kèo cho bà M thì đã biết nhà bà M đã cũ nên có khả năng khi gác cây kèo lên sẽ không an toàn, có thể bị sập, nhưng bà M kêu ông cứ xây cây kèo và gác lên cho bà M nếu có hư hỏng hay sập thì bà M là chủ nhà sẽ tự chịu trách nhiệm. Kết quả khi gác cây kèo lên thì đã bị sập. Sau khi sự việc xảy ra khoảng 03 ngày thì ông có đến gặp bà M yêu cầu được khắc phục, làm lại cây kèo bị sập nhưng bà M không đồng ý và khởi kiện ông đến nay.

Khi thỏa thuận giao việc nhưng bà M tự chịu trách nhiệm thì có ông Hùng và bà Phượng biết và chứng kiến. Ông Hùng và bà Phượng là người do bà M thuê đến làm cỏ, phụ hồ nên ông B không biết được họ, tên và địa chỉ cụ thể của hai người này nên không cung cấp được cho Tòa án. Ông B khẳng định sự việc lập biên bản cây kèo bị sập vào ngày 28/12/2019 âm lịch như bà M trình bày thì không ai thông báo cho ông biết nên ông không có tham dự, không ký tên biên bản. Theo ông B sự số sập kèo là có thật nhưng nguyên nhân là do ông xây dựng theo yêu cầu của bà M, không phải lỗi của ông.

Đối với yêu cầu của bà M yêu cầu ông bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm thì ông không đồng ý, vì ông không nói xấu, không làm mất danh dự của bà M.

Nay trước yêu cầu khởi kiện của bà M ông B không đồng ý bồi thường. Nếu bà M đồng ý thì ông B sẽ bồi thường thiệt hại cây kèo bị sập cho bà M số tiền là 1.000.000 đồng.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số:103/2023/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Tuyết M về việc yêu cầu ông Giang Văn B bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm. Buộc ông B bồi thường cho bà M số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng chẵn).

Không chấp nhận yêu cầu của bà Lê Tuyết M về việc yêu cầu ông Giang Văn B bồi thường thiệt hại các tài sản gồm: Một bồn cầu vệ sinh, một máy nén bơm nước, một cây kẽm 05cm x10cm hiệu Hoa Sen, một hồ chứa nước bị nứt, một cây quạt đứng cần cao.

Không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của bà Lê Tuyết M do danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm đối với số tiền 14.900.000 đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 03/10/2023, bà Lê Tuyết M có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Lê Tuyết M giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Phần tranh luận tại phiên toà:

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Tăng Tấn Lập tranh luận: Ông B thừa nhận có làm sập cây kèo. Mặc dù thiệt hại về tài sản và tinh thần là không có lập thành văn bản.

Nguyên đơn bà Lê Tuyết M tranh luận: Ông B đổ kèo không đúng kỹ thuật nên làm gãy kèo dẫn đến thiệt hại về tài sản của bà mà còn xúc phạm danh dự của bà.

Bị đơn ông Giang Văn B tranh luận: Ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Tuyết M. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 103/2023/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét kháng cáo của bà Lê Tuyết M, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà M cho rằng ông Giang Văn B trong quá trình sửa nhà do đổ kèo không đúng kỹ thuật nên có 01 cây kèo bị gãy làm thiệt hại các tài sản: 01 cây kèo 40cm x 8m, 01 bồn cầu toa lét, 01 máy nén bơm nước, 03 cây kèo không câu sắt, 01 hồ nước, 01 cây quạt đứng, 01 cây kẽm 5cm x 10cm trị giá 27.850.000 đồng và yêu cầu bồi thường tiền tổn thất tinh thần 12 tháng lương cơ bản bằng 46.800.000 đồng. Ông B chỉ đồng ý bồi thường tiền cây kèo bị gãy với mức giá 1.000.000 đồng và không thừa nhận việc làm hư hỏng các tài sản khác cũng như không xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bà M.

Bà M trình bày cây kèo bị gãy làm hư các tài sản trên của bà M với tổng giá trị tài sản thiệt hại số tiền 27.850.000 đồng. Trình bày của bà M không có văn bản chứng minh, cũng không ai chứng kiến sự việc. Tại phiên tòa, bà M cho rằng có chính quyền địa phương lập biên bản sự việc nhưng chính quyền cho rằng biên bản không còn nên bà không thể cung cấp cho Tòa án. Cây kèo bị gãy có giá trị được định giá là 480.000 đồng nhưng ông B tự nguyện bồi thường cho nguyên đơn 1.000.000 đồng. Án sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện ông B bồi thường cho nguyên đơn tiền cây kèo bị gãy 1.000.000 đồng là đúng quy định.

Bà M yêu cầu ông B bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm nhưng bà M không có chứng cứ chứng minh ông B có các hành vi, lời nói, hành động làm cho danh dự, nhân phẩm, uy tín của bà M bị xâm hại nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M. Do đó, án sơ thẩm chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà M. Buộc ông B trả cho bà M số tiền 1.000.000 đồng là có căn cứ.

Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Tuyết M. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 103/2023/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Án phí dân sự phúc thẩm: Bà M trên 60 tuổi và có yêu cầu được miễn án phí là đúng quy định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Tuyết M.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 103/2023/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Tuyết M về việc yêu cầu ông Giang Văn B bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm. Buộc ông B bồi thường cho bà M số tiền 1.000.000 đồng.

Không chấp nhận yêu cầu của bà Lê Tuyết M về việc yêu cầu ông Giang Văn B bồi thường thiệt hại các tài sản gồm: Một bồn cầu vệ sinh, một máy nén bơm nước, một cây kẽm 05cm x10cm hiệu Hoa Sen, một hồ chứa nước bị nứt, một cây quạt đứng cần cao.

Không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của bà Lê Tuyết M do danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm với số tiền 14.900.000 đồng.

Về chi phí chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: buộc ông Giang Văn B có nghĩa vụ trả lại cho bà Lê Tuyết M số tiền 200.000 đồng.

Về lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án: Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của bà Lê Tuyết M cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng ông Giang Văn B còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Tuyết M được miễn nộp án phí. Ông Giang Văn B phải chịu số tiền 300.000 đồng (chưa nộp).

Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Tuyết M được miễn nộp án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hisện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ