vanban.org

Quyết định 06/2023/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND TX. Chí Linh, tỉnh Hải Dương Tuyên án 21/07/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của người yêu cầu là ông Bùi Đức L: Tuyên bố bà Lê Thị N, sinh năm 1971, nơi cư trú cuối cùng: Khu dân cư H, phường C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương là đã chết.

Ngày chết của bà Lê Thị N được xác định là ngày 02/02/2012. Kể từ ngày quyết định của Tòa án tuyên bố bà Lê Thị N là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của bà Lê Thị N được giải quyết như đối với một người đã chết. Tài sản của bà Lê Thị N được giải quyết theo quy … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Lê Thị Nga"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của người yêu cầu là ông Bùi Đức L: Tuyên bố bà Lê Thị N, sinh năm 1971, nơi cư trú cuối cùng: Khu dân cư H, phường C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương là đã chết.
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÍ LINH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2023/QĐST - VDSChí Linh, ngày 21 tháng 7 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Đào Thị Hậu.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Anh Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà Đỗ Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 11/2023/TLST - VDS ngày 03 tháng 3 năm 2023 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 05/2023/QĐST - DS ngày 14 tháng 7 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Ông Bùi Đức L, sinh năm 1969; địa chỉ: Khu dân cư H, phường C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Lê Thị N, sinh năm 1971; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Khu dân cư H, phường C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

+ Cụ Nguyễn Thị T; địa chỉ: Khu dân cư N, phường Ch, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Có mặt;

+ Chị Bùi Thị X, sinh năm 1993; địa chỉ: Khu dân cư T, phường T, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Có mặt;

+ Chị Bùi Thị Ng, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn B, xã L, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Có mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Tại đơn yêu cầu và trong quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu là ông Bùi Đức L và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cụ Nguyễn Thị T, chị Bùi Thị X, chị Bùi Thị Ng thống nhất trình bày:

Ông Bùi Đức L và bà Lê Thị N kết hôn với nhau năm 1992 và chung sống với nhau tại khu dân cư H, phường C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Ông L và bà N có 02 con chung là chị Bùi Thị X, sinh năm 1993 và chị Bùi Thị Ng, sinh năm 2000. Ông L và bà N chung sống với nhau đến ngày 23/12/2002 thì bà N đi xuất khẩu lao động tại Malaysia, tuy nhiên gia đình không biết địa chỉ cụ thể ở nước ngoài của bà N. Thời gian đầu ở nước ngoài, bà N thường xuyên liên lạc với gia đình. Từ tháng 01/2007 đến nay bà N không liên lạc với gia đình, gia đình không có tin tức của bà N. Gia đình đã tìm cách liên lạc với bà N nhưng không liên lạc được và đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm ở nhiều nơi, trong đó đã phát và đăng tin trên đài tiếng nói Việt Nam và báo Công lý nhưng vẫn không có thông tin của bà N. Gia đình không xác định được ngày liên lạc giữa gia đình và bà N lần cuối cùng là ngày nào, không biết được thời điểm có tin tức cuối cùng của bà Nga cụ thể là ngày nào. Gia đình chỉ xác định được thời điểm từ tháng 01/2007 đến nay gia đình không biết được tin tức của bà N. Nơi cư trú cuối cùng trước khi bà N đi là khu dân cư H, phường C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Từ thời điểm Tòa án ra Quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về bà N đến nay, gia đình ông L vẫn không nhận được tin tức gì của bà N. Nay ông L yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Lê Thị N là đã chết; cụ T, chị X và chị N nhất trí với yêu cầu của ông L.

Kết quả xác minh tại khu dân cư H, phường C; Ủy ban nhân dân phường C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương; khu dân cư N, phường C; Ủy ban nhân dân phường C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương thể hiện: Năm 1992 ông Bùi Đức L và bà Lê Thị N kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của bà N trước năm 1992: Khu dân cư N, phường C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Từ năm 1992 thì bà N đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Khu dân cư H, phường C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Bà Lê Thị N là con của cụ Lê Văn T1 (đã chết) và cụ Nguyễn Thị T. Ông L và bà N có 02 con chung là Bùi Thị X, sinh năm 1993 và Bùi Thị Ng, sinh năm 2000, hiện đã xây dựng gia đình riêng và không sống tại địa phương. Đến năm 2002 bà N đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài và từ đó đến nay không về địa phương, địa phương không có tin tức gì của bà N. Nơi cư trú cuối cùng của bà N trước đi nước ngoài là khu dân cư H, phường C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

Tại Công văn số 15760/QLXNC-P5 ngày 22/6/2023 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an kèm theo bảng danh sách khách xuất nhập cảnh xác định: Bà Lê Thị N xuất cảnh sang nước Malaysia vào ngày 23/12/2002.

Tại phiên họp:

Người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên họp không xác định được ngày liên lạc giữa gia đình và bà N lần cuối cùng là ngày nào, không biết được thời điểm có tin tức cuối cùng của bà N cụ thể là ngày nào và chỉ xác định được thời điểm từ tháng 01/2007 đến nay gia đình không biết được tin tức của bà N. Người yêu cầu giữ nguyên nội dung yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Lê Thị N là đã chết. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhất trí với yêu cầu của người yêu cầu và không có yêu cầu gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự đã đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Về đường lối giải quyết: Đề nghị Toà án: Áp dụng khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 361, Điều 367, Điều 370, khoản 2 Điều 385, Điều 391 và Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Bùi Đức L, tuyên bố bà Lê Thị N, sinh năm 1971; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Khu dân cư H, phường C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương là đã chết. Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của bà N được giải quyết như đối với một người đã chết. Về chi phí đăng tin và lệ phí sơ thẩm: Ông L phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Toà án nhân dân thành phố nhận định:

Về tố tụng: Ông Bùi Đức L có đơn yêu cầu Toà án tuyên bố bà Lê Thị N, sinh năm 1971; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Khu dân cư H, phường C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương là đã chết. Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh đã gửi công văn đến cục quản lý xuất nhập cảnh và nhận được trả lời từ cục quản lý xuất nhập cảnh xác định bà Lê Thị N xuất cảnh sang nước Malaysia vào ngày 23/12/2002. Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh đã chuyển đơn của ông L đến Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương để giải quyết theo thẩm quyền. Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã chuyển lại đơn cho Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, căn cứ vào điểm 5 mục IV công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10/6/2002 xác định thẩm quyền giải quyết việc dân sự là Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh thụ lý, giải quyết việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; đểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm 5 mục IV công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10/6/2002 của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải đáp các vấn đề nghiệp vụ.

Về nội dung yêu cầu của người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có cơ sở xác định bà Lê Thị N, sinh năm 1971, có bố mẹ đẻ là cụ Lê Văn T1 (đã chết) và cụ Nguyễn Thị T; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Khu dân cư H, phường C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đi lao động ở Malaysia từ năm 2002. Trong thời gian ở nước ngoài, bà N và gia đình vẫn thường xuyên liên lạc với nhau. Từ tháng 01/2007 đến nay bà N không còn liên lạc với gia đình, gia đình không biết tin tức của bà N. Gia đình đã tìm kiếm công khai nhưng không có tin tức bà N còn sống. Sau khi thụ lý việc dân sự, Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết; đã đăng, phát Quyết định trên đài tiếng nói Việt Nam, báo Công lý 03 số liên tiếp, Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, Cổng thông tin điện tử Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương; niêm yết tại nơi cư trú cuối cùng của bà N và gửi Công văn đến Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an để tìm thông tin về việc xuất nhập cảnh của bà N theo quy định tại Điều 384, Điều 385, Điều 388, Điều 392 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo tìm kiếm bà N lần đầu tiên (ngày 09/3/2023), Tòa án, địa phương, ông L và gia đình vẫn không nhận được tin tức của bà N.

Ông L, chị X, chị Ng, bà T không xác định được ngày liên lạc giữa gia đình và bà N lần cuối cùng là ngày nào, không biết được thời điểm có tin tức cuối cùng của bà N cụ thể là ngày nào mà chỉ xác định được thời điểm từ tháng 01/2007 đến nay gia đình không biết được tin tức của bà N nên căn cứ vào khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự xác định thời gian bà N đi biệt tích là ngày 01/02/2007.

Thời gian biệt tích của bà N là từ ngày 01/02/2007, tính đến nay đã hơn 05 năm liền và không có tin tức xác thực bà N còn sống. Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự, xác định yêu cầu của ông Bùi Đức L về việc tuyên bố bà Lê Thị N là đã chết có căn cứ được chấp nhận.

Do ngày không có tin tức của bà N là từ ngày 01/02/2007 nên xác định ngày chết của bà N là ngày 02/02/2012.

Khi quyết định của Tòa án tuyên bố bà Lê Thị N là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của bà N được giải quyết như đối với một người đã chết. Tài sản của bà N được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Ông Bùi Đức L phải chịu chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định tại khoản 2 Điều 385 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về lệ phí sơ thẩm: Ông Bùi Đức L là người yêu cầu giải quyết việc dân sự nên phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 361, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 391 và Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của người yêu cầu là ông Bùi Đức L: Tuyên bố bà Lê Thị N, sinh năm 1971, nơi cư trú cuối cùng: Khu dân cư H, phường C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương là đã chết.

Ngày chết của bà Lê Thị N được xác định là ngày 02/02/2012.

2. Kể từ ngày quyết định của Tòa án tuyên bố bà Lê Thị N là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của bà Lê Thị N được giải quyết như đối với một người đã chết. Tài sản của bà Lê Thị N được giải quyết theo quy định của pháp luật thừa kế.

3. Ông Bùi Đức L phải chịu chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú là 3.000.000 đồng. Ông L đã nộp đủ chi phí.

4. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Bùi Đức L phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự.

5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định.

Cỡ chữ