vanban.org

Quyết định 06/2023/QĐ-TA

TAND TP. Yên Bái, tỉnh Yên Bái Tuyên án 17/01/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Tuấn A.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nguyễn Tuấn A có quyền khiếu nại; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Yên Bái có quyền kiến nghị; Viện ki… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Tuấn A.
  • Căn cứ chính? Điều 19 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2023/QĐ-TATP. Yên Bái, ngày 17 tháng 01 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Tạ Thị Kim Anh

2. Thư ký phiên họp: Bà Phan Hoàng Thùy Linh

Ngày 17 tháng 01 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 03/2023/QĐ-TA ngày 09 tháng 01 năm 2023, đối với:

Họ và tên: Nguyễn Tuấn A; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 2x tháng 1x năm 198x; CCCD số: 015083006xxx; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 07/12; nguyên quán: Xã TT, thành phố YB, tỉnh YB; nơi cư trú: Thôn LT, xã TT, thành phố YB, tỉnh YB; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: (Không có bố) và bà Nguyễn Thị C (đã chết); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: 02. Năm 2008, bị xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội: “Cướp tài sản” theo bản án số 107/2008/HSST ngày 29-12-2008 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Năm 2018, bị xử phạt 02 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 34/2018/HSST ngày 14-6-2018 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Hoàng Thanh - Cán bộ Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái: Ông Trần Văn Tri - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Nguyễn Tuấn A là đối tượng nghiện chất ma túy (heroin) từ năm 2007 đến nay. Ngày 17-9-2022, Công an xã TT, thành phố Yên Bái tiến hành xét nghiệm chất ma túy có trong cơ thể Nguyễn Tuấn A, kết quả xét nghiệm dương tính. Ngày 18-9-2022, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã TT, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái đã ra Quyết định số 615/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Nguyễn Tuấn A trong thời hạn 01 năm.

Ngày 14-12-2022, Công an xã TT, thành phố Yên Bái tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Nguyễn Tuấn A, kết quả xét nghiệm dương tính với ma túy. Tuấn A thừa nhận bản thân vẫn sử dụng trái phép chất ma túy, lần gần nhất vào khoảng ngày 10-12-2022. Ngày 19-12-2022, Công an xã TT, thành phố Yên Bái phối hợp với Trạm y tế xã TT, thành phố Yên Bái xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Tuấn A, kết quả: Nguyễn Tuấn A nghiện ma túy. Cùng ngày, Tuấn A cam kết đăng ký biện pháp cai nghiện ma túy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã TT, thành phố Yên Bái ra Quyết định dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy số 829/QĐ-UBND đối với Nguyễn Tuấn A. Tuy nhiên, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày 19-12-2022, Nguyễn Tuấn A không thực hiện việc đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế trong thời hạn quy định vi phạm khoản 1 Điều 28 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP của Chính phủ và khoản 1, khoản 3 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021 nên Ủy ban nhân dân xã TT, thành phố Yên Bái đã lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Ngày 03-01-2023, Ủy ban nhân xã TT, thành phố Yên Bái có văn bản đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Tuấn A.

Ngày 06-01-2023, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái ban hành Công văn số 03/LĐTBXH-TNXH chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tuấn A.

Tại phiên họp:

Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Yên Bái giữ nguyên đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Tuấn A với thời gian là 24 (hai mươi bốn) tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định biện pháp xử lý hành chính của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Đề nghị chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Yên Bái.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; sau khi nghe ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, người bị đề nghị và đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, có đủ cơ sở để xác định:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính được lập đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Điều 96, Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020; Điều 26, Điều 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021; Điều 41 Nghị định số 116/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Người bị đề nghị là Nguyễn Tuấn A đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Quyết định mở phiên họp nhưng vắng mặt tại phiên họp không có lý do. Căn cứ khoản 2 điều 19 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp theo thủ tục chung.

Nguyễn Tuấn A vắng mặt tại phiên họp nhưng qua các tài liệu trong hồ sơ thể hiện: Tuấn A là đối tượng nghiện chất ma túy, đã bị áp dụng Quyết định quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 615/QĐ-UBND ngày 18-9-2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã TT, thành phố Yên Bái, thời hạn quản lý là 01 năm. Trong thời gian quản lý, mặc dù đã được động viên, giáo dục, giúp đỡ và bản thân Tuấn A cũng nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, vi phạm nghĩa vụ nhưng do nghiện chất ma túy nên Tuấn A vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, lần gần nhất vào ngày 10-12-2022. Trong thời gian 05 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả xác định nghiện chất ma túy của Trạm Y tế xã TT, thành phố Yên Bái, Tuấn A không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế nên Tuấn A là đối tượng thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021; khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020; khoản 1 Điều 28 Nghị định số 116/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Do đó, việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã TT, thành phố Yên Bái lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Tuấn A là đúng quy định của pháp luật và cần thiết.

Trong quá trình lập hồ sơ, Nguyễn Tuấn A đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Nguyễn Tuấn A không có tình tiết tăng nặng.

Về nhân thân: Nguyễn Tuấn A có nhân thân xấu, có 02 tiền án đã được xóa án tích về hành vi “Cướp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vào các năm 2008 và 2018. Sau khi chấp hành xong hình phạt trở về địa phương, Nguyễn Tuấn A không lấy đây làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của Nguyễn Tuấn A đã vi phạm các quy định của pháp luật, gây mất trật tự an ninh, an toàn xã hội. Vì vậy, cần áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn tương xứng để Nguyễn Tuấn A chữa bệnh, lao động dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc, từ bỏ được ma túy, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Đề nghị của đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Yên Bái; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Tuấn A là có căn cứ, cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

Căn cứ khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 105 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020;

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021; Nghị định số 116/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;

Căn cứ khoản 2 Điều 19; Điều 22; Điều 23 và Điều 31 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Tuấn A.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Nguyễn Tuấn A có quyền khiếu nại; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Yên Bái có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội thành phố Yên Bái phối hợp với Công an thành phố Yên Bái có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ