vanban.org

Quyết định 06/2022/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND TP. Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 25/11/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Nguyễn Ngọc T1;

Tuyên bố: ông Nguyễn Khắc T2, sinh năm 1917 có nơi cư trú cuối cùng tại số nhà 34, phố L, thị xã C, tỉnh Quảng Ninh; nay là số nhà 57 phố L, thuộc tổ 22, khu Đ, phường Cẩm Đông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh là đã chết; ngày chết đối với ông Nguyễn Khắc T2 là 01/01/1989; hậu quả pháp lý của việ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Nguyễn Ngọc T yêu cầu tuyên bố chết đối ông NGuyễn Khắc T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Nguyễn Ngọc T1;
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

------------------
Số: 06/2022/QĐST - VDS
Cẩm Phả, ngày 25 tháng 11 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v : tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: bà Đặng Thị Minh Ngà;

Thư ký phiên họp: bà Vũ Thị Loan – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên họp: bà Phạm Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/TLST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2022 về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết; theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2022/QĐST-DS ngày 15 tháng 11 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: ông Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1958; địa chỉ: số nhà 57, phố L, tổ 22, khu Đ, phường Cẩm Đông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

Người bị yêu cầu: ông Nguyễn Khắc T2, sinh năm 1917 có nơi cư trú cuối cùng tại số nhà 34, phố L, thị xã C, (nay là số nhà 57 phố L, thuộc tổ 22, khu Đ, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

-Bà Nguyễn Thị Th1 – sinh năm 1951; địa chỉ: tổ 22, khu Đ, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt

- Bà Nguyễn Thị Th2 – sinh năm 1954; địa chỉ: tổ 22, khu Đ, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị T3 – sinh năm 1955; đại chỉ: tổ 2, khu 8A, phường Q, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

(Bà Th1 bị bệnh tâm thần ông T1 là người giám hộ; bà Th2 có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Trong đơn yêu cầu và trong quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu là ông Nguyễn Ngọc T1 trình bày: bố ông là ông Nguyễn Khắc T2, mẹ ông là bà Phạm Thị C, bố mẹ ông có 04 người con là Nguyễn Thị Th1, Nguyễn Thị Th2, Nguyễn Thị T3 và Nguyễn Ngọc T1. Mẹ ông chết năm 2003, bố ông là ông Nguyễn Khắc T2, sinh năm 1917 có nơi cư trú cuối cùng tại số nhà 34, phố L, thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nay là số nhà 57 phố L, thuộc tổ 22, khu Đ, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; ông Nguyễn Khắc T2 đã đi biệt tích từ năm 1983 cho đến nay đã 39 năm liền, không có tin tức xác thực là còn sống, gia đình ông đã tiến hành nhiều biện pháp tìm kiếm nhưng không có kết quả gì. Vì vậy ông Nguyễn Ngọc T1 yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả tuyên bố ông Nguyễn Khắc T2 là đã chết, để ông thực hiện việc khai tử đối với ông Nguyễn Khắc T2.

Tại phiên họp ông Nguyễn Ngọc T1 và bà Nguyễn Thị T3 trình bày thêm: năm 1983 ông Nguyễn Khắc T2 bỏ nhà đi, khi đó ông T2 đã 66 tuổi và có mắc bệnh tâm thần hoang tưởng, gia đình đã đi tìm kiếm nhiều nơi, nhiều lần trong thời gian dài nhưng không có thông tin gì, cho đến nay không có thông tin gì là ông T2 còn sống.

Bà Nguyễn Thị Th1 bị bệnh tâm thần, bà Th1 không có chồng con hiện nay đang do ông T1 chăm sóc, người giám hộ cho bà Th1 là ông T1. Bà Nguyễn Thị Th2 vắng mặt tại phiên họp, nhưng trong văn bản gửi về Tòa án bà Th2 xác nhận bà đã nhận được thông báo thụ lý việc dân sự, bà đồng ý với yêu cầu của ông T1 và đề nghị được vắng mặt tại các phiên làm việc tại Tòa án. Bà Nguyễn Thị T3 có mặt tại phiên họp có quan điểm đồng ý những nội dung ông Nguyễn Ngọc T1 trình bày và đồng ý việc ông T1 yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Khắc T2 là đã chết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên họp, đủ cơ sở để kết luận, ông Nguyễn Khắc T2 bỏ đi biệt tích đã quá 05 năm và không có thông tin xác thực là còn sống, căn cứ quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Ngọc T1 về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với ông Nguyễn Khắc T2.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả nhận định:

Người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết là ông Nguyễn Khắc T2 có nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích là tại: số nhà 34, phố L, thị xã C, nay là số nhà 57 phố L, thuộc tổ 22, khu Đ, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Nên việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả theo quy định tại khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Người yêu cầu là ông Nguyễn Ngọc T1, người bị yêu cầu là ông Nguyễn Khắc T2, ông T1 là con của ông T2, ông T1 là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông T2, vì vậy ông T1 có quyền yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với ông Nguyễn Khắc T2 theo quy định tại khoản 1 Điều 391 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét thấy yêu cầu của ông Nguyễn Ngọc T1 thì thấy:

Tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu, ông T1 cung cấp tài liệu chứng minh ông đã thông báo tìm kiếm ông Nguyễn Khắc T2 trên Trung tâm truyền thông tỉnh Quảng Ninh; xác nhận của Công an phường C về việc ông T2 bỏ đi biệt tích từ năm 1983 không có tin tức gì, năm 2005 ông Tuấn bị xóa tên trong sổ hộ khẩu. Nội dung về việc ông T2 bỏ nhà đi biệt tích, cho đến nay không có thông tin xác thực là còn sống được thể hiện tại biên bản xác minh do Tòa án thu thập. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là những người chị ruột của ông T1, là bà Nguyễn Thị T3, Nguyễn Thị Th2 có quan điểm đồng ý những nội dung ông T1 trình bày và không có ý kiến gì khác về việc ông T1 yêu cầu tòa án tuyên bố chết đối với ông Nguyễn Khắc T2.

Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, ngày 01/06/2022 Tòa án đã quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết. Quyết định trên đã được đăng trên Báo Nhân dân, Đài phát thanh VOV trong 03 số liên tiếp (ngày đăng đầu tiên là ngày 15/7/2022). Đã hết thời hạn đăng thông báo 04 tháng nhưng cũng không có thông tin gì về ông Nguyễn Khắc T2, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả đã quyết định mở phiên họp giải quyết đơn yêu cầu của ông Nguyễn Ngọc T1.

Với các dẫn chứng trên, đủ căn cứ kết luận ông Nguyễn Khắc T2 đã bỏ đi biệt tích đến nay đã quá 05 năm và không có tin tức xác thực là còn sống, là trường hợp Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015. Vì vậy yêu cầu của ông Nguyễn Ngọc T1 về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Khắc T2 là đã chết là có cơ sở, được chấp nhận. Ông Nguyễn Khắc T2 bị tuyên bố chết thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự, cụ thể, ông T2 bỏ đi biệt tích từ năm 1983, nên ngày chết của ông T2 xác định là ngày 01/01/1989. Hậu quả pháp lý của người bị tuyên là đã chết theo quyết định của Tòa án được quy định tại Điều 72 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Do ông Nguyễn Ngọc T1 – sinh năm 1958 là người cao tuổi, ông T1 có đơn đề nghị được miễn tạm ứng lệ phí và lệ phí giải quyết việc dân sự. Nên căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông T1 được miễn nộp lệ phí giải quyết việc dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 71; Điều 72 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; khoản 1 Điều 391; Điều 393 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Nguyễn Ngọc T1;

Tuyên bố: ông Nguyễn Khắc T2, sinh năm 1917 có nơi cư trú cuối cùng tại số nhà 34, phố L, thị xã C, tỉnh Quảng Ninh; nay là số nhà 57 phố L, thuộc tổ 22, khu Đ, phường Cẩm Đông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh là đã chết; ngày chết đối với ông Nguyễn Khắc T2 là 01/01/1989; hậu quả pháp lý của việc ông Nguyễn Khắc T2 bị tuyên bố là đã chết theo quy định tại Điều 72 Bộ luật dân sự năm 2015.

-Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Nguyễn Ngọc T1 được miễn nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: căn cứ quy định tại Điều 371, Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự: người yêu cầu là ông Nguyễn Ngọc T1, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Th1, bà Nguyễn Thị T3 có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Th2, người bị yêu cầu là ông Nguyễn Khắc T2 có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày quyết định được niêm yết theo quy định của pháp luật; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.

Cỡ chữ