vanban.org

Quyết định 06/2022/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Lò Mùi Gvà anh Tẩn Láo Sử.

Tuyên bố: Huỷ kết hôn trái pháp luật giữa chị Lò Mùi Gvà anh Tẩn Láo Sử. Hậu quả pháp lý của việc huỷ hôn nhân trái pháp luật: Chị Lò Mùi Gvà anh Tẩn Láo Sử phải chấm dứt quan hệ vợ chồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Lò Mùi Ghển - Tẩn Láo Sử"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Lò Mùi Gvà anh Tẩn Láo Sử.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÁT XÁT
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2022/QĐST-HNGĐ.Bát Xát, ngày 27 tháng 5 năm 2022.

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v “Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật và chấm dứt quan hệ vợ chồng”

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT - TỈNH LÀO CAI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Minh Đức

Thư ký phiên họp: Ông Lê Quý Sửu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hoài Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.

Mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 05/2022/TLST-HNGĐ ngày 5 tháng 5 năm 2022 về việc “Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật và chấm dứt quan hệ vợ chồng” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 22/2022/QĐST- HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

+ Lò Mùi G- Sinh ngày 05/9/1993

+ Tẩn Láo S- Sinh ngày 15/9/1989

Cùng địa chỉ: Thôn Vi P, xã Bản Q, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự nộp Toà án ngày 26/4/2022 và quá trình Toà án giải quyết thì người yêu cầu chị Lò Mùi Ghển, anh Tẩn Láo Sử trình bầy:

Ngày 14/01/2010 chị Lò Mùi G, anh Tẩn Láo S có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bản Qua, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Khi làm thủ tục đăng ký kết hôn đã khai nhầm thông tin người vợ là Lò Mùi G- Sinh ngày 05/9/1992. Đến năm 2022 chị Lò Mùi Gkiểm tra lại các giấy tờ như giấy khai sinh, chứng minh thư nhân dân, sổ hộ khẩu của mình thì chị Lò Mùi G- Sinh ngày 05/9/1993. Khi đối chiếu Giấy chứng nhận kết hôn trên với chứng minh thư nhân dân, sổ hộ khẩu và giấy khai sinh của người vợ là Lò Mùi Gthì thấy việc đăng ký kết hôn của chị Lò Mùi Ghển, anh Tẩn Láo Sử vào ngày 14/01/2010 là kết hôn trái pháp luật. Vi phạm điều kiện kết hôn về độ tuổi kết hôn đối với bên nữ, được quy định tại khoản 1 Điều 9 - Luật hôn nhân gia đình năm 2000.

Đến nay anh, chị chung sống không hạnh phúc, phát sinh mâu thuẫn, mẫu thuẫn đã được bạn bè, gia đình hòa giải nhưng không thành, anh chị đã sống ly thân với nhau từ đầu năm 2022. Chị Lò Mùi Gvà anh Tẩn Láo S cùng viết đơn đề nghị Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai huỷ hôn nhân trái pháp luật và đề nghị Toà án tuyên bố chấm dứt quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Trong thời gian chung sống anh chị có 02 con chung, cháu lớn là Lò Mai P- Sinh ngày 24/5/2011 và cháu Lò Vần Ki - Sinh ngày 27/9/2015. Khi hủy kết hôn trái pháp luật và Tòa án tuyên bố chấm dứt quan hệ vợ chồng thì anh chị thỏa thuận như sau: Chị Lò Mùi Glà người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục 02 người con chung là cháu Lò Mai P - Sinh ngày 24/5/2011 và cháu Lò Vần Kiên - Sinh ngày 27/9/2015 cho đến tuổi trưởng thành. Anh Tẩn Láo Scó nghĩa vụ cấp dưỡng cho mỗi cháu 1.000.000đ/ 1 tháng/1 cháu.

Về tài sản: Chị Lò Mùi Gvà anh Tẩn Láo Sử không yêu cầu Toà án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự và được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của người yêu cầu và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

1.1 Về quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật: Tại thời điểm chị Lò Mùi Gvà anh Tẩn Láo Sử có đơn yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật ngày 9/3/2022 thì chị Lò Mùi Gvà anh Tẩn Láo Sđã đủ điều kiện kết hôn, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT - TANDTC-VKSNDTC- BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì chị Lò Mùi Gvà anh Tẩn Láo Sử có quyền yêu cầu huỷ hôn nhân trái pháp luật.

1. 2 Về thẩm quyền giải quyết:

Chị Lò Mùi Gvà anh Tẩn Láo Sđăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Bản Qua, huyện Bát Xát, căn cứ vào nơi cư trú của anh chị thì Uỷ ban nhân dân xã Bản Qua đăng ký kết hôn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 17 Luật hộ tịch năm 2014, như vậy việc đăng ký kết hôn đúng tại cơ quan có thẩm quyền. Toà án nhân dân huyện Bát Xát thụ lý giải quyết yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật theo quy định tại khoản 6 Điều 3 và Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm g khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự là đúng quy định của pháp luật.

1.3 Tại phiên họp chị Lò Mùi Gvà anh Tẩn Láo Sử có đơn đề nghị Toà án giải quyết việc dân sự vắng mặt.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án giải quyết việc dân sự vắng mặt những người trên.

Về nội dung yêu cầu Toà án giải quyết:

Chị Lò Mùi Gvà anh Tẩn Láo S cho rằng khi đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Bản Qua, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai vào ngày 14/01/2010, thời điểm đăng ký kết hôn chị Lò Mùi G16 tuổi 04 tháng 09 ngày, vi phạm điều kiện kết hôn về độ tuổi hôn đối với bên nữ, được quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Nay anh chị yêu cầu Toà án huỷ hôn nhân trái pháp luật và chấm dứt quan hệ vợ chồng.

2.1 Xét thấy tại Giấy khai sinh, sổ hộ khẩu, chứng minh thư nhân dân của chị Lò Mùi Gthì ngày tháng năm sinh của chị Lò Mùi G- Sinh ngày 05/9/1993. Như vậy, việc chị Lò Mùi Gsinh ngày 05/9/1993 là có căn cứ.

Đối chiếu với giấy đăng ký kết hôn của chị Lò Mùi Gvà anh Tẩn Láo Sử theo giấy đăng ký kết hôn số 06 ngày 14/01/2010 do Uỷ ban nhân dân xã Bản Qua cấp thì chị Lò Mùi Gthời điểm đăng ký kết hôn là 16 tuổi 08 tháng 02 ngày. Như vậy là vi phạm điều kiện kết hôn về độ tuổi hôn đối với bên nữ quy định tại điểm khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, hôn nhân giữa chị Lò Mùi Gvà anh Tẩn Láo Sử là trái pháp luật, nay anh chị đều yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật, xét thấy yêu cầu của anh chị là phù hợp, căn cứ vào khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, khoản 2 Điều 10, Khoản 1 Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 4 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT - TANDTC- VKSNDTC- BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Cần chấp nhận hủy việc kết hôn trái pháp luật của chị Lò Mùi Gvà anh Tẩn Láo Sử.

Về hậu quả của việc huỷ hôn nhân trái pháp luật: Tại đơn yêu cầu và bản tự khai, anh chị đều xác nhận vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân với nhau không ai quan tâm đến nhau, nay anh chị đều có yêu cầu khi việc kết hôn trái pháp luật bị huỷ đề nghị Toà án tuyên bố chấm dứt quan hệ vợ chồng. Xét thấy yêu cầu của anh chị là phù hợp, căn cứ khoản 1 Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 khi việc kết hôn trái pháp luật bị huỷ thì chị Lò Mùi Gvà anh Tẩn Láo Sphải chấm dứt quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Trong thời gian chung sống anh chị có 02 con chung, cháu lớn là Lò Mai Phượng - Sinh ngày 24/5/2011 và cháu nhỏ là Lò Vần Kiên - Sinh ngày 27/9/2015. Khi chấm dứt quan hệ vợ chồng thì anh chị thỏa thuận để chị Lò Mùi Glà người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cả 2 cháu Lò Mai Phượng - Sinh ngày 24/5/2011 và cháu nhỏ là Lò Vần Kiên - Sinh ngày 27/9/2015 cho đến tuổi trưởng thành. Anh Tẩn Láo Sử có nghĩa vụ cấp dưỡng cho mỗi cháu 1.000.000đ/ 1 tháng/1 cháu. Như vậy sự thoả thuận của anh chị là phù hợp, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, công nhận sự thoả thuận của anh chị về con là phù hợp với khoản 2 Điều 12; Điều 81,82,83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Tẩn Láo Sử có nghĩa vụ cấp dưỡng cho mỗi cháu 1.000.000đ/ 1 tháng/1 cháu.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Lò Tả Mẩy và anh Tẩn Láo Sử không phải chịu lệ phí việc dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Các điều 10, 11 và khoản 1,2 Điều 12; Điều 81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ khoản 1 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm g khoản 2 Điều 39; Điều 149; khoản 2 Điều 367; Điều 370 và Điều 371 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hộị khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Lò Mùi Gvà anh Tẩn Láo Sử.

Tuyên bố: Huỷ kết hôn trái pháp luật giữa chị Lò Mùi Gvà anh Tẩn Láo Sử.

Hậu quả pháp lý của việc huỷ hôn nhân trái pháp luật: Chị Lò Mùi Gvà anh Tẩn Láo Sử phải chấm dứt quan hệ vợ chồng.

2. Về con chung: Công nhận sự thoả thuận của chị Lò Mùi Gvà anh Tẩn Láo Sử như sau:

Chị Lò Mùi Glà người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu Lò Mai Phượng - Sinh ngày 24/5/2011 và cháu nhỏ là Lò Vần Kiên - Sinh ngày 27/9/2015 cho đến tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Tẩn Láo Sử có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho cháu Lò Mai Phượng và cháu Lò Vần Kiên là 1.000.000đ/ 1 tháng/1 cháu cho đến khi cháu Phượng, cháu Kiên đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng thực hiện từ ngày 01 tháng 6 năm 2022.

Về lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Anh Tẩn Láo Sử có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Lò Mùi Gvà anh Tẩn Láo Sử không phải nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.

4. Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ