vanban.org

Quyết định 06/2022/QĐST-HNGĐ — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 29/04/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn T: Tuyên bố bà Trần Thị M, sinh năm 1973; nơi cư trú cuối cùng: Thôn S, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang là đã chết kể từ ngày 29/4/2022.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Trần Văn T được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Ông Trần Văn T; ông Trần Văn T1; ông Trần Văn T2; bà Trần Thị T3; bà Trần Thị S, có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày. Viện kiểm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Đề nghị tuyên bố bà M là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn T: Tuyên bố bà Trần Thị M, sinh năm 1973; nơi cư trú cuối cùng: Thôn S, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang là đã chết kể từ ngày 29/4/2022.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN
TỈNH BẮC GIANG
Số: 06/2022/QĐST-HNGĐ
Tân Yên, ngày 29 tháng 4 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người đã chết

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Huy Biên, Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Ông Ngô Văn Quang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 08/2021/TLST-VDS ngày 3 tháng 11 năm 2021 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 08a/2022/QĐST-VDS ngày 18 tháng 4 năm 2022 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Trần Văn T, sinh năm 1952, có mặt; nơi cư trú: Thôn S, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

- Người bị yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị M, sinh năm 1973; nơi cư trú cuối cùng: Thôn S, xã Liên S, huyện Tân Y, tỉnh Bắc Giang.

- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trần Văn T1, sinh năm 1961, có mặt.

2. Ông Trần Văn T2, sinh năm 1964, có mặt.

3. Bà Trần Thị T3, sinh năm 1945, có mặt.

Đều cư trú tại: Thôn S, xã Liên S, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

4. Bà Trần Thị S, sinh năm 1956, có mặt.

Địa chỉ: Thôn B, xã A, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Theo đơn yêu cầu đề ngày 21/10/2021, biên bản lấy lời khai và lời trình bày của ông Trần Văn T tại phiên họp như sau:

Ông là anh trai ruột của bà Trần Thị M, em ông bà M là người không được minh mẫn, trước khi bà M bỏ đi biệt tích thì bà M đã bị đi lạc một vài lần nhưng những lần đó gia đình đều tìm được và đưa về nhà. Khoảng năm 1990 thời điểm đó bà M được 17 tuổi, bà M chung sống cùng mẹ là cụ Đỗ Thị T4 (cụ T4 chết tháng 12/2020 âm lịch) thì bà M đã bỏ nhà đi biệt tích từ đó cho đến nay không có tin tức. Sau khi bà M đi lạc, gia đình ông đã tổ chức đi tìm nhiều lần, tìm ở nhiều nơi nhưng không có thông tin của bà M. Kể từ thời điểm năm 1990 đến nay đã là 32 năm gia đình ông không có một chút tin tức gì, bà M cũng không liên lạc với bất kỳ một ai trong gia đình. Nay ông đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tân Yên tuyên bố bà Trần Thị M là đã chết.

* Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T1, Trần Văn T2, bà Trần Thị T3, bà Trần Thị S trong các lời khai và tại phiên họp đều trình bày: Các ông, bà đều là anh chị ruột của bà Trần Thị M, các ông bà đều xác định bà M đã bỏ đi từ năm 1990 đến nay không có tin tức, mặc dù đã được gia đình nhiều lần tìm kiếm nhưng không có thông tin, bà M cũng không có liên lạc với bất kỳ một ai trong gia đình. Nay ông T đại diện cho các anh chị em đề nghị tuyên bố bà Trần Thị M là đã chết, các ông, bà đều nhất trí và đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Tại phiên họp ông Trần Văn T giữ nguyên yêu cầu đề nghị Toà án tuyên bố bà Trần Thị M là đã chết. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

* Đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm giải quyết việc dân sự:

Áp dụng khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, Điều 369, Điều 370, Điều 391, Điều 393 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 71 của Bộ luật dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về án phí, lệ phí Toà án:

- Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Trần Văn T, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tân Yên tuyên bố bà Trần Thị M là đã chết.

- Về lệ phí: Ông Trần Văn T thuộc diện người cao tuổi được miễn tiền lệ phí việc dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tân Yên nhận định:

Về thẩm quyền: Ông Trần Văn T có đơn yêu cầu tuyên bố bà Trần Thị M là đã chết thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo khoản 4 Điều 27 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Tân Yên thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đơn yêu cầu của ông Trần Văn T đề nghị tuyên bố bà Trần Thị M đã chết:

Sau khi có đơn yêu cầu của ông Trần Văn T, Tòa án thụ lý việc dân sự đã thông báo tìm kiếm bà Trần Thị M trên phương tiện thông tin đại chúng. Đã hết thời hạn thông báo 04 tháng nhưng không nhận được tin tức gì của bà M. Tại biên bản làm việc thì chính quyền thôn S và UBND xã L đều xác định bà Trần Thị M không có mặt tại địa phương, đã bỏ nhà đi từ năm 1990 cho đến nay không có tin tức gì.

Tòa án nhân dân huyện Tân Yên xét thấy: Nơi cư trú cuối cùng của bà Trần Thị M được xác định ở thôn S, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Bà M bỏ nhà đi từ năm 1990 và từ đó đến nay bà M không liên lạc với gia đình và địa phương. Gia đình ông Trần Văn T đã tổ chức đi tìm kiếm nhiều lần nhưng không có kết quả. Tòa án đã thông báo tìm kiếm bà M trên các phương tiện thông tin đại chúng theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức. Mặt khác, tại biên bản làm việc địa phương xác nhận từ năm 1990 cho đến nay đều không có tin tức gì của bà M, gia đình và địa phương đều xác định bà M đã đi biệt tích, không có tin tức được khoảng 32 năm. Nay ông T đề nghị Toà án huyện Tân Yên tuyên bố bà Trần Thị M là đã chết. Nên cần chấp nhận đơn yêu cầu của Trần Văn T và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Tuyên bố bà Trần Thị M là đã chết theo qui định tại Điều 393 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về lệ phí giải quyết yêu cầu: Ông Trần Văn T là người cao tuổi nên được miễn lệ phí việc dân sự theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; Điều 366; §iÒu 367; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 391, Điều 393 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 71 của Bộ luật dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn T: Tuyên bố bà Trần Thị M, sinh năm 1973; nơi cư trú cuối cùng: Thôn S, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang là đã chết kể từ ngày 29/4/2022.

- Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Trần Văn T được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Ông Trần Văn T; ông Trần Văn T1; ông Trần Văn T2; bà Trần Thị T3; bà Trần Thị S, có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày. Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 10 ngày; Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự đối với những quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 482 Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ