vanban.org

Quyết định 06/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Lê Xuân T.

Tuyên bố ông Nguyễn L, sinh năm 1950; nơi cư trú: thôn ML, xã TH, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị là người mất năng lực hành vi dân sự. Ông Lê Xuân T, sinh năm 1962; nơi cư trú: thôn ML, xã TH, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị là người giám hộ của ông Nguyễn L. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "“Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Lê Xuân T.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRIỆU PHONG
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2022/QĐST- DSTriệu Phong, ngày 12 tháng 12 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán- Chủ trì phiên họp: ông Phan Đăng Khoa.

Thư ký phiên họp: bà Đặng Thị Ngọc Thúy, Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong tham gia phiên họp: bà Trần Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong.

Ngày 12 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 32/2022/TLST- DS ngày 10 tháng 10 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2022/QĐST- DS ngày 30 tháng 11 năm 2022 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: ông Lê Xuân T, sinh năm 1962; nơi cư trú: thôn ML, xã TH, huyện TP, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn L, sinh năm 1950; nơi cư trú: thôn ML, xã TH, huyện TP, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Trong đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 10 tháng 8 năm 2022 và tại phiên họp, người yêu cầu ông Lê Xuân T trình bày: Ông T có người anh trai cùng mẹ khác cha là ông Nguyễn L, sinh năm 1950, từ khi sinh ra cho đến nay đã bị bệnh thần kinh tâm thần. Trước đây khi còn trẻ và đi lại được thì thường hay đi khỏi nhà, cứ đi hết chỗ này sang chỗ khác mà không biết đường về nhà. Ông T và người thân phải đi tìm về, mọi hoạt động của ông L phải có người bên cạnh để chăm sóc. Mẹ ông T chỉ sinh được hai người con là ông L và ông T. Hiện nay mẹ ông T đã mất nên ông T là người trực tiếp chăm sóc cho ông L. Tại Quyết định số 1054/QĐ-UBND ngày 15/8/2013 của UBND huyện Triệu Phong về việc giải quyết trợ cấp thường xuyên cho đối tượng xã hội thì ông L thuộc đối tượng khuyết tật nặng thuộc diện người cao tuổi. Giấy xác nhận khuyết tật số 53/TP/THOA ngày 01/8/2013 ông L thuộc dạng khuyết tật thần kinh tâm thần. Vì vậy, ông Lê Xuân T làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong tuyên bố ông Nguyễn L mất năng lực hành vi dân sự và cử ông là người giám hộ cho ông L.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự như sau:

- Về phần thủ tục: Trong quá trình giải quyết việc dân sự cũng như tại phiên họp, Tòa án đã chấp hành đúng theo trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định.

- Về nội dung: áp dụng Điều 22 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 35, Điều 367, Điều 378 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Lê Xuân T và tuyên bố ông Nguyễn L là người mất năng lực hành vi dân sự; về chi phí tố tụng: ông Lê Xuân Tẩn phải chịu chi phí giám định theo quy định; Về lệ phí: ông Lê Xuân T được miễn lệ phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Ông Lê Xuân T yêu cầu Toà án tuyên bố ông Nguyễn L, sinh năm 1950; nơi cư trú: thôn ML, xã TH, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị là người mất năng lực hành vi dân sự. Đây là yêu cầu giải quyết việc dân sự và thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Triệu Phong theo quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 và Điều 376 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên họp, ông Nguyễn L vắng mặt có lý do vì ông L không có khả năng đi lại và nhận thức. Căn cứ khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành phiên họp.

Về nội dung: Xét đơn yêu cầu của ông Lê Xuân T thì từ khi ông Nguyễn L sinh ra đã bị bệnh thần kinh tâm thần, khi còn trẻ và đi lại được thì thường hay đi khỏi nhà, cứ đi hết chỗ này sang chỗ khác mà không biết đường về nhà. Nay mọi hoạt động của ông L đều phải dựa vào người thân. Hiện ông L đang hưởng trợ cấp thường xuyên theo Quyết định số 1054/QĐ-UBND ngày 15/8/2013 của UBND huyện Triệu Phong về việc giải quyết trợ cấp thường xuyên cho đối tượng xã hội. Tại giấy xác nhận khuyết tật số 53/TP/THOA ngày 01/8/2013 ông L thuộc dạng khuyết tât thần kinh tâm thần. Ông Lê Xuân T đề nghị Tòa án tuyên bố ông Nguyễn L mất năng lực hành vi dân sự và cử ông Lê Xuân T là người giám hộ cho ông Nguyễn L. Tại kết luận giám định pháp y tâm thần số 2001/KLGĐ ngày 25/11/2022 của Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực Miền Trung đã kết luận, tại thời điểm hiện tại:

a. Kết luận về y học: Chậm phát triển tâm thần mức độ nặng (F72).

b. Kết luận về năng lực hành vi dân sự: Mất hoàn toàn năng lực hành vi dân sự.

Xét thấy, việc ông Lê Xuân T yêu cầu xác định ông Nguyễn L là người mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ nên chấp nhận.

Từ năm 2003 đến nay mọi sinh hoạt của ông Nguyễn L đều do ông Lê Xuân T chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện tại, bố mẹ ông Nguyễn L đều đã chết. Ngoài ông Lê Xuân T là em cùng mẹ khác cha ra thì ông Nguyễn L không có anh chị em nào khác. Căn cứ Điều 22, khoản 4 Điều 54, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 134 Bộ luật dân sự Tòa án chỉ định ông Lê Xuân T là người giám hộ của ông Nguyễn L.

Về chi phí tố tụng: ông Lê Xuân T phải chịu chi phí giám định theo quy định của pháp luật.

Về lệ phí: ông Lê Xuân T là người cao tuổi và có đơn xin miễn tiền lệ phí sơ thẩm nên được miễn nộp tiền lệ phí sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 361, 366, 370, 371, 372, 376, 377 và Điều 378 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22, khoản 4 Điều 54, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 134 Bộ luật dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Lê Xuân T.

Tuyên bố ông Nguyễn L, sinh năm 1950; nơi cư trú: thôn ML, xã TH, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị là người mất năng lực hành vi dân sự.

Ông Lê Xuân T, sinh năm 1962; nơi cư trú: thôn ML, xã TH, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị là người giám hộ của ông Nguyễn L.

Các giao dịch dân sự phát sinh có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của ông Nguyễn L sẽ do ông Lê Xuân T xác lập, thực hiện theo quy định pháp luật.

2. Về chi phí tố tụng: Ông Lê Xuân T phải chịu 1.233.800đồng (Một triệu hai trăm ba mươi ba nghìn tám trăm) chi phí giám định. Ông Lê Xuân T đã nộp đủ chi phí tố tụng.

3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Miễn lệ phí dân sự sơ thẩm cho ông Lê Xuân T.

Người yêu cầu có mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định.

Cỡ chữ