vanban.org

Quyết định 06/2022/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Minh T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 16-02-2022). Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị và thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Minh T.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ V
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2022/QĐ-TAVũng Tàu, ngày 30 tháng 3 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Trần Thị Huê.

2. Thư ký phiên họp: Bà Đậu Thị Hiền– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu.

Ngày 30 tháng 3 năm 2022, tại Cơ sở tư vấn và điều trị cai nghiện tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 06/QĐ-TA ngày 24 tháng 3 năm 2022 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Minh T, sinh năm 1994; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nguyên quán: Bà Rịa-Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú: xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định; Tiền án: Không; Tiền sự: 04 tiền sự về áp dụng xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Ngũ Thế Huy - Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố V.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V: Bà Trần Hồng Gấm- Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 16 tháng 02 năm 2022, Công an S, thành phố V phối hợp cùng Cơ quan y tế S, thành phố V tiến hành kiểm tra và xét nghiệm xác định Nguyễn Minh T là người nghiện ma túy nên lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng ma túy, đồng thời lập hồ sơ đề nghị đưa Nguyễn Minh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định.

Tại phiên họp:

- Ý kiến đại diện Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội thành phố V: Ngày 16-02-2022, Nguyễn Minh T bị Công an S, thành phố V lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Theo tài liệu có trong hồ sơ, T khai sử dụng ma túy tổng hợp (đá) từ năm 2013 đến nay; Qua xác minh, T không có nơi cư trú ổn định, T không đăng ký cai nghiện tự nguyện, trên cơ sở đó, Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội thành phố V đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa T cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc với thời gian 24 (hai mươi bốn) tháng.

- Ý kiến của người bị đề nghị: Nguyễn Minh T thừa nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình và đã sử dụng ma túy từ năm 2013 cho đến nay.

- Ý kiến đại diện Viện kiểm sát: Trình tự thủ tục áp dụng biện pháp xử lý đối với Nguyễn Minh T là đầy đủ và đúng quy định. Việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc đối với người bị nghiện là cần thiết, đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Đại diện cơ quan đề nghị, xem xét tính chất mức độ vi phạm quyết định mức thời gian đưa T vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc theo quy định.

XÉT THẤY:

1. Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:

Thời hiệu giải quyết: Ngày 16 tháng 02 năm 2022, Nguyễn Minh T bị Công an S, thành phố V lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 30 tháng 3 năm 2022, Tòa án mở phiên họp xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T là còn trong thời hiệu, theo quy định tại Điều 6 Luật Xử lý vi phạm Hành chính.

Thẩm quyền giải quyết: Thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố V theo quy định tại Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính và Điều 3 của Pháp Lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Trình tự, thủ tục lập hồ sơ: Sau khi xác định Nguyễn Minh T là người nghiện ma túy, T không có nơi cư trú ổn định, T không đăng ký cai nghiện tự nguyện, cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành lập hồ sơ đề nghị và thực hiện đầy đủ, đúng trình tự quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm Hành chính và Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

2. Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm:

Theo lời khai có trong quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp, Nguyễn Minh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình. Lời khai của T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nên có cơ sở xác định T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 16-02-2022 của Trạm y tế S, thành phố V kết luận T là người nghiện ma túy loại Methamphetamine. Do đó, có đủ căn cứ kết luận T đã vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 32 Luật phòng chống ma túy.

3. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Tình tiết tăng nặng: Không.

Tình tiết giảm nhẹ: Nguyễn Minh T đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính xem xét giảm nhẹ một phần mức thời gian áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

4. Mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng:

Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Nguyễn Minh T biết rõ ma túy, loại Methamphetamine là chất gây nghiện, có sức tàn phá đối với sức khỏe, gây ảnh hưởng xấu đến gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi vi phạm. Đồng thời, T cũng nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình là xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Nguyễn Minh T đã bị áp dụng biện pháp xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 4 lần nay lại tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó cần thiết phải quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T một thời gian tương xứng với hành vi và mức độ vi phạm để cai nghiện, học tập và lao động.

5. Lý do, căn cứ áp dụng:

- Lý do áp dụng: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố V đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Minh T là cần thiết để quản lý cắt cơn, giải độc, phục hồi sức khỏe và tư vấn tâm lý. Đồng thời, làm giảm tác hại liên quan đến hành vi sử dụng trái phép chất ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và cộng đồng.

- Căn cứ áp dụng: Căn cứ vào các Điều 27, Điều 32 Luật Phòng chống ma túy, Điều 3, 6, 9, 95, 96, 103, 104, 105, 107 và điểm b khoản 1 Điều 110 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính; Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Điều 2, 3, 19, 20, 22, 23, 24, 30, 31 và 32 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Minh T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 16-02-2022).

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị và thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị:

Thời hạn khiếu nại của người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án;

Thời hạn kiến nghị của cơ quan đề nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động-Thương binh và xã hội thành phố V; Công an thành phố V có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ