vanban.org

Quyết định 06/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 17/06/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/06/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh N; giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 16/2022/HS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Z, tỉnh Vĩnh Long.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 06 (sáu) tháng tù về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi - phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (điều 146 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh N; giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 16/2022/HS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Z, tỉnh Vĩnh Long.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2022/HS-PT
Ngày: 17 – 6 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tư

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Trường

Ông Lê Nguyễn Khoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Ni – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm kín vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 07/2022/HSPT-CTN ngày 27 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Thanh N do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2022/HS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Z, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thanh N, sinh năm 1967 tại Vĩnh Long. Nơi cư trú: Số nhà 119, đường Z, phường Y, thành phố Z, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T bà Trần Thị Q; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tốt; bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/4/2021 đ n nay, bị cáo có m t tại phiên tòa.

- Những người tham gia tố tụng khác có kháng cáo, ho c có liên quan đ n kháng cáo:

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Văn Ti n D – Thuộc đoàn luật sư tỉnh Vĩnh Long.

Ngoài ra, bị hại Võ Thị Như Y, người đại diện hợp pháp của bị hại bà Võ Thị Kiều O không có kháng cáo ho c không có liên quan đ n kháng cáo, tòa không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 14/02/2021, Nguyễn Thanh N, sinh năm 1967 có đ n khu vực khóm X1, phường Y1, thành phố Z, tỉnh Vĩnh Long để uống rượu cùng những người bạn. Đ n khoảng 09 giờ cùng ngày N chở cháu Võ Thị Như Y, sinh ngày 10/7/2015; nơi cư trú; Số nhà 803/9, ấp X3, xã Y3, huyện Z3, tỉnh Sóc Trăng đang sinh sống cùng mẹ ruột là chị Võ Kiều O, sinh năm 1989 tại nhà trọ số 76/10, khóm X1, phường Y1, thành phố Z, tỉnh Vĩnh Long, lúc này bé Như Y đang chơi một mình không có người trông coi, nên N ẫm bé Như Y lên xe rồi chở về nhà của N tại phường Y, thành phố Z, tỉnh Vĩnh Long, sau đó N dùng hai tay b cháu Như Y lên rồi dùng mũi hôn liên tục vào cơ quan sinh dục của bé Như Y, sau đó N chở béNhư Y về khu vực chỗ nhậu ban đầu và ti p tục nhậu. Khi về đ n nhà trọ béNhư Y có nói với mẹ là chị Võ Kiều Oanh, có người đàn ông chở về nhà và hôn cơ quan sinh dục, đ n ngày 23/3/2021 béNhư Y thấy N đang ở khu vực khóm X1, phường Y1, thành phố Z, tỉnh Vĩnh Long nên chỉ cho chị O bi t, chị O đã đ n cơ quan Công an trình báo sự việc. Công an phường 4, thành phố Z, tỉnh Vĩnh Long k t hợp Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Z ti n hành mời N làm việc và N đã thừa nhận hành vi dùng mũi hôn vào cơ quan sinh dục của béNhư Y, nên Công an phường 4, thành phố Z, tỉnh Vĩnh Long đã chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Z, tỉnh Vĩnh Long để điều tra theo thẩm quyền.

Tại K t luận giám định số: 27/2021/TD, ngày 02/3/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Long k t luận: m hộ bình thường; màng trinh không có vị trí rách.

Do Nguyễn Thanh N có tiền sử về bệnh “Rối loạn tâm thần do hành vi sử dụng rượu”, nên Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định. Tại bản k t luận giám định pháp y tâm thần số: 195/2021/KLGĐ ngày 22/10/2021 của Trung tâm giám định pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ k t luận: “Về y học, rối loạn nhân cách, hành vi do sử dụng rượu; về năng lực, đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”. Tại thời điểm phạm tội và hiện tại “Đương sự có năng lực trách nhiệm hình sự”.

Tại bản án Hình sự sơ thẩm số: 16/2022/HS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Z, tỉnh Vĩnh Long đã quy t định:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 146; điểm i, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N - 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quy t định về án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo vụ án theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28/3/2022 bị cáo Nguyễn Thanh N kháng cáo với nội dung: Xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Thanh N: Vẫn giữ yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo.

Người bào chữa cho bị cáo có luật sư Nguyễn Văn Ti n Dung trình bày: Đề nghị xem xét về hoàn cảnh và nhân thân của bị cáo và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm: Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, phân tích các tình ti t tăng n ng, giảm nhẹ; đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên án sơ thẩm. Bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Thanh N: Xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Z, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Z, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý ki n ho c khi u nại, quy t định của Cơ quan ti n hành tố tụng; do đó, các hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thanh N: Khoảng 09 giờ ngày 14/02/2021 thấy cháu Võ Thị Như Y, sinh ngày 10/7/2015 đang chơi một mình không có người trông coi, nên N ẫm béNhư Y lên xe rồi chở về nhà của N tại phường Y, thành phố Z, tỉnh Vĩnh Long, sau đó N dùng hai tay b cháu Như Y lên rồi dùng mũi hôn liên tục vào cơ quan sinh dục của bé Như Y, sau đó N chở cháuNhư Y về nhà. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo N phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đ n quyền được bảo vệ về nhân phẩm, danh dự của bị hại, làm ảnh hưởng trực ti p đ n sức khỏe và sự phát triển lành mạnh, bình thường của bị hại trong độ tuổi trẻ em, gây mất trật tự trị an ở địa phương ảnh hưởng xấu đ n nhiều m t của đời sống xã hội; bị dư luận xã hội lên án; theo k t luận giám định bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, cần xử lý nghiêm và phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình ti t giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm i, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp tình ti t giảm nhẹ mới. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Xét lời đề nghị của luật sư là không có cơ sở chấp nhận.

Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là có cơ sở để chấp nhận.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Quy t định khác của bản án sơ thẩm về án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh N; giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 16/2022/HS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Z, tỉnh Vĩnh Long.

Áp dụng khoản 1 Điều 146; điểm i, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 06 (sáu) tháng tù về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Về án phí: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quy t quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thanh N phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Quy t định khác của bản án sơ thẩm về án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ