vanban.org

Quyết định 06/2021/QĐST-HNGĐ — Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng

TAND huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 19/05/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của Ông Trần Văn M; Bà Nguyễn Thị Mai T về việc “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi”. Tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Trần Văn M; Bà Nguyễn Thị Mai T và cháu Trần Ngọc Gia L, sinh ngày 04/8/2009. Quyền, nghĩa vụ giữa Ông Trần Văn M; Bà Nguyễn T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng — án dân sự — "Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỐNG NHẤT
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2021/QĐST-HNGĐThống Nhất, ngày 19 tháng 5 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Châu Ngọc Hà.

Thư ký phiên họp: Bà Đinh Thị Tuyết Hạnh là Thư ký Tòa án - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên họp: Ông Vũ Văn Hội- Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2021, tại Hội trường B - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 100/2021/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2021, về việc “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 07/2021/QĐMPHST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

1. Anh Trần Văn M

sinh năm 1957

2. Chị Nguyễn Thị Mai T

sinh năm 1976

Cùng địa chỉ: Tổ H, ấp T, xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Nguyễn Thị Hồng C

sinh năm 1990

Địa chỉ: ấp Q, xã T, huyện V, Tp. Cần Thơ.

2. Cháu Trần Ngọc Gia L

sinh năm 2009

Địa chỉ: ấp V, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

( Tất cả có mặt ).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Trong đơn yêu cầu, bản tự khai người yêu cầu là anh Trần Văn M, chị Nguyễn Thị Mai T trình bày:

Do vợ chồng anh M chị T chung sống lâu năm không có con nên vào ngày 23/8/2017 vợ chồng anh, chị đã liên hệ Mái ấm tình thương Thị xã La Gi Bình Thuận để xin nhận cháu Trần Ngọc Gia L, sinh ngày 04/8/2009 làm con nuôi và được UBND xã Tân An huyện La Gi cấp Giấy chứng nhận nuôi con nuôi vào ngày 06/6/2017. Anh, chị nuôi cháu L được 02 tháng thì cho cháu L trở lại Mái ấm tình thương để cháu đi học nhà Dòng. Lâu lâu anh, chị mới liên hệ dì sơ để nói chuyện hỏi han tình hình cháu L. Thực tế do hoàn cảnh nên vợ chồng anh chị chưa làm tròn trách nhiệm của cha, mẹ đối với con.

Cho đến nay, mẹ ruột cháu L là Bà Nguyễn Thị Hồng C, sinh năm 1990; địa chỉ: ấp Q, xã T, huyện V, Tp. Cần Thơ (hiện là mẹ đơn thân) có nguyện vọng được nhận lại cháu, với mong muốn cháu được đoàn tụ với mẹ nên vợ chồng anh chị yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi là cháu Trần Ngọc Gia L.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc thụ lý việc dân sự, xác định đúng thẩm quyền, tư cách đương sự, tiến hành thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, thành phần những người tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự; người yêu cầu đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự khi tham gia tố tụng.

- Về nội dung: Căn cứ Điều 25, Điều 26, Điều 27 Luật nuôi con nuôi năm 2010 đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai nhận định:

Về tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ông Trần Văn M và Bà Nguyễn Thị Mai T có đơn yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông M, bà T và cháu Trần Ngọc Gia L, sinh ngày 04/8/2009; giao cháu L cho chị Nguyễn Thị Hồng C, sinh năm 1990 là mẹ đẻ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục nên căn cứ khoản 5 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi”. Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện tất cả những người yêu cầu đều cư trú tại xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 35 và điểm l khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

Về nội dung: Cháu Trần Ngọc Gia L, sinh ngày 04/8/2009 là con đẻ chị Nguyễn Thị Hồng C và là con nuôi hợp pháp của ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị Mai T theo giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 02, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã Xuân Thiện, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 06/6/2017. Sau khi nhận nuôi con nuôi, ông M và bà T đã đăng ký khai sinh cháu Trần Ngọc Gia L theo giấy khai sinh số 218, do Ủy ban nhân dân phường Tân An, Thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 19/8/2009.

Ông Trần Văn M, bà Nguyễn Thị Mai T cùng yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi vì hiện nay ông M và bà T là cha mẹ nuôi của cháu L đang gặp khó khăn về kinh tế nên không có điều kiện để chăm sóc và nuôi dưỡng cháu L. Mẹ đẻ của cháu L là chị Nguyễn Thị Hồng C (là mẹ đơn thân) có đơn xin nhận lại con đề ngày 25/02/2021 có xác nhận của chính quyền đại phương. Chị C đồng ý nhận lại cháu để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu L cũng có ý kiến đồng ý với yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi trên. Xét thấy yêu cầu của các đương sự là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất về đường lối giải quyết việc dân sự là phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Người yêu cầu phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định.

Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu được quyền kháng cáo, Viện kiểm sát được quyền kháng nghị quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 5 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm l khoản 2 Điều 39; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 10; khoản 4 Điều 24; Điều 25; Điều 26 và Điều 27 Luật nuôi con nuôi năm 2010;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của Ông Trần Văn M; Bà Nguyễn Thị Mai T về việc “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi”.

Tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Trần Văn M; Bà Nguyễn Thị Mai T và cháu Trần Ngọc Gia L, sinh ngày 04/8/2009. Quyền, nghĩa vụ giữa Ông Trần Văn M; Bà Nguyễn Thị Mai T và cháu Trần Ngọc Gia L chấm dứt kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật.

Giao cháu Trần Ngọc Gia L, sinh ngày 04/8/2009 cho chị Nguyễn Thị Hồng C được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Các quyền, nghĩa vụ của chị Nguyễn Thị Hồng C và cháu Trần Ngọc Gia L được khôi phục kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi chấm dứt.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Trần Văn M; Bà Nguyễn Thị Mai T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự; được khấu trừ từ tiền tạm ứng lệ phí sang nộp lệ phí theo biên lai thu số 0006598 ngày 31 tháng 3 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Ông Trần Văn M; Bà Nguyễn Thị Mai T đã nộpđủ lệ phí.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ