- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Quyết định số 06/2021/QĐST- DS yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị A.
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 06/2021/QĐST- DS | Khoái Châu, ngày 20 tháng 07 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hương.
Thư ký phiên họp: Bà Vũ Nhật Lệ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 07 năm 2021, tại trụ sở TAND huyện Khoái Châu mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 04/2021/TLST- DS, ngày 14/04/2021 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 06/2021/QĐST-DS, ngày 05 tháng 07 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
*/ Người yêu cầu: Bà Phạm Thị A, sinh năm 1962. Địa chỉ: thôn M, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên. (Vắng mặt)
*/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Trần Thị B, sinh năm 1983; Địa chỉ: Ngõ A, xã T, huyện G, tp Hà Nội.
2. Chị Trần Thị C, sinh năm 1991. Địa chỉ: thôn M, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
3. Chị Trần Thị D, sinh năm 1995. Địa chỉ: thôn M, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
(Đều vắng mặt)
*/ Những người làm chứng:
1. Ông Lê Văn E, sinh năm 1950 ;
2. Ông Phạm Gia F, sinh năm 1965; Đều trú tại: thôn M, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
(Đều vắng mặt)
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu, biên bản ghi lời khai của người yêu cầu là bà Phạm Thị A trình bày: Bà A và ông L kết hôn với nhau từ năm 1982. Ông bà có 03 con chung là chị Trần Thị B, sinh năm 1983, hiện trú tại: Ngõ A, xã T, huyện G, tp. Hà Nội; Chị Trần Thị C, sinh năm 1991, hiện trú tại: xóm 9, thôn M, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên và chị Trần Thị D, sinh năm 1995, hiện trú tại: thôn M, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Khi còn trẻ thì nhận thức, tâm thần, thể trạng của ông L phát triển bình thường, ông L cũng tham gia công tác tại địa phương và là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. Ông L là con trưởng, nhưng đến năm 1995, ông bà mới sinh được hai người con gái nên ông L muốn sinh thêm 01 người con trai, nhưng con thứ ba của ông bà cũng lại là con gái, đã thế ông L còn bị kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng, anh em trong gia đình cũng nói ra, nói vào gây cho ông L bức xúc rồi sinh ra chán nản rượu chè rồi trở nên nghiện rượu lúc nào không hay, ông L uống rượu không có kiểm soát. Đến năm 1998, ông L xuất hiện triệu chứng đau đầu, nói nhảm, cáu giận vô cớ, thường xuyên đi lang thang, lúc nhớ lúc quên, tinh thần không tập trung. Gia đình bà A đã đưa ông L đi chữa trị nhiều lần nhưng bệnh tình không thuyên giảm mà ngày càng nặng hơn. Cho đến vài năm gần đây ông L không còn nhận thức, điều khiển được hành vi, không tự vệ sinh cá nhân, quần áo lôi thôi, xộc xệch, ăn cơm phải có có người giúp đỡ, thậm chí nếu không có người tắm cho thì vài tháng cũng không biết đi tắm, ngủ ít, thường xuyên đi lang thang ngoài đường, lúc lại nhảy xuống ao, nói nhảm, nói cười vô cớ, gia đình thường xuyên phải đi tìm về. Hiện tại ông L không điều trị ở đâu, không uống thuốc gì.
Hiện nay gia đình bà A đang có tranh chấp đất đai với người khác nhưng ông L không thể tham gia tố tụng, không thể trình bày quan điểm, lời khai được nên bà A đề nghị tòa án tuyên bố ông Trần Quang L mất năng lực hành vi dân sự để con gái ông bà là chị Trần Thị C là người giám hộ, đại diện cho ông L tham gia tố tụng tại các cơ quan liên quan.
Tại biên bản ghi lời khai của các con của ông L là chị Trần Thị B, chị Trần Thị C, chị Trần Thị D đều nhất trí với toàn bộ lời khai, quan điểm trình bày và yêu cầu của bà A.
Tại phiên họp hôm nay:
Người yêu cầu bà Phạm Thị A, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Trần Thị B, chị Trần Thị C, chị Trần Thị D đều có đơn xin vắng mặt, những người làm chứng như ông Phạm Gia F, ông Lê Văn E đều có quan điểm xin vắng mặt.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của thẩm phán, thư ký: Đã chấp hành đúng, đầy đủ theo quy định của BLTTDS năm 2015 kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm ra quyết định giải quyết việc dân sự; Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong quá trình giải quyết việc dân sự cũng đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 70 của BLTTDS năm 2015.
Về đường lối giải quyết: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu chấp nhận yêu cầu của bà A và ra quyết định tuyên bố ông Trần Quang L mất năng lực hành vi dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu nhận định:
[1] Về quyền yêu cầu: Bà Phạm Thị A là vợ hợp pháp của ông Trần Quang L nên bà A có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trần Quang L mất năng lực hành vi dân sự.
[2] Về tố tụng: Người yêu cầu bà Phạm Thị A, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Trần Thị B, chị Trần Thị C, chị Trần Thị D đều có đơn xin vắng mặt tại phiên họp, những người làm chứng như ông Phạm Gia F, ông Lê Văn E đều có quan điểm xin vắng mặt tại phiên họp nên Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu căn cứ khoản 2, 3 Điều 367 của BLTTDS năm 2015 vẫn tiến hành phiên họp.
[3] Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Yêu cầu về việc “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” là loại việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, quy định tại khoản 1 Điều 27 của BLTTDS năm 2015. Người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự cư trú tại thôn Minh Khai, xã Đại Tập, huyện Khoái Châu nên căn cứ khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 của BLTTDS năm 2015 thì yêu cầu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu.
[4] Xét yêu cầu của bà A thì thấy rằng: Trình bày của bà A về tình trạng sức khỏe của ông L phù hợp với tài liệu, chứng cứ do người yêu cầu cung cấp, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với kết quả xác minh tại ban Lao Động thương binh xã hội xã Đại Tập, trạm y tế xã Đại Tập và cơ sở thôn Minh Khai, xã Đại Tập. Nên có căn cứ khẳng định tình trạng của ông L như bà A trình bày là đúng. Tuy nhiên, để có căn cứ về mặt y học, ngày 16/04/2021, Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu đã ra Quyết định trưng cầu giám định khả năng nhận thức và điều khiển hành vi đối với ông Trần Quang L.
Tại kết luận giám định sức khỏe tâm thần số: 56/2021/GĐSKTT, ngày 10/6/2021 của Viện pháp y tâm thần Trung Ương đã kết luận: Tại thời điểm giám định đối tượng Trần Quang L bị bệnh mất trí do rượu. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F10.73. Đối tượng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.”
Như vậy, trình bày của bà A và kết quả xác minh của Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu phù hợp với kết luận của Viện pháp y tâm thần Trung Ương. Do đó, yêu cầu của bà A và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu về việc tuyên bố ông Trần Quang L bị mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 22 của BLDS năm 2015 nên được tòa án nhân dân huyện Khoái Châu chấp nhận.
[5] Về lệ phí: Bà Phạm Thị A là người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự nên phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự, tuy nhiên bà A thuộc đối tượng hộ nghèo và đã có đơn xin miễn án phí nên căn cứ vào Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà A được miễn nộp toàn bộ lệ phí.
[6]. Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 371 và Điều 372 của BLTTDS năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 1 Điều 22 của BLDS năm 2015; Khoản 1 Điều 27; khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39; Điều 149, khoản 2, 3 Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 378 của BLTTDS năm 2015; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị A.
2. Tuyên bố ông Trần Quang L, sinh năm 1959 có HKTT và trú tại: thôn M, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên bị mất năng lực hành vi dân sự.
3. Về lệ phí: Bà A được miễn nộp toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.
4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp được quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định này được thông báo, niêm yết tại nơi cư trú.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
5. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA
| Nơi nhận: - VKSND huyện Khoái Châu; - VKSND tỉnh Hưng Yên; - Chi cục THADS huyện Khoái Châu; - Người yêu cầu; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - UBND xã Đại Tập; - Lưu HS việc dân sự. | PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Thu Hương |