- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "DÂN SỰ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Nguyễn Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 06/2020/QĐST-VDS | Chơn Thành, ngày 26 tháng 10 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trương Quốc Khánh
Thư ký phiên họp: Bà Hồ Thị Thanh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Toản – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 10 năm 2020, tại Toà án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước T hành phiên họp giải quyết việc dân sự thụ lý số: 18/2020/TLST-VDS ngày 17 tháng 02 năm 2020 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 85/QĐST-VDS ngày 16 tháng 10 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1979, địa chỉ cư trú: Tổ 3, ấp 3B, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước. (Có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn N sinh năm 1980; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Tổ 3, ấp 3B, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự người yêu cầu ông Nguyễn Văn T trình bày:
Ông Nguyễn Q, sinh năm 1956 (đã chết) và bà Phạm Thị A, sinh năm 1957 (đã chết) là vợ chồng sinh ra được hai người con là Nguyễn Văn T, sinh năm 1979 và Nguyễn Văn N sinh năm 1980 cùng cư trú tại tổ 3, ấp 3B, xã M g, huyện, tỉnh Bình Phước. Sau khi cha mẹ chết, khoảng tháng 01/2017 ông N bỏ đi khỏi địa phương. Ông T đã đi tìm, liên hệ với Đài phát thanh – truyền hình Bình Phước để đăng thông báo tìm kiếm nhưng đến nay vẫn không có tìn tức gì về ông N. Do đó ông T làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn N mất tích theo quy định pháp luật. Về tài sản của ông N, ông T xác định ông N không có tài sản nên ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên họp:
Ông Nguyễn Văn T xác định đến thời điểm Tòa án mở phiên họp ông T không nhận được tin tức gì của ông Nguyễn Văn N, tiếp tục giữ nguyên yêu cầu của mình về việc đề nghị Tòa án tuyên bố ông N mất tích.
Đại diện viên kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự và Thư ký phiên họp: Từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán, Hội đồng ra quyết định giải quyết việc dân sự, Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự và Thư ký phiên họp đã chấp hành đúng quy định tại Điều 367 đến Điều 369 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định có trong Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Văn T gửi đơn yêu cầu và Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành thụ lý việc dân sự về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” là có căn cứ và đúng với quy định tại Điều 387 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông T đã tự tìm kiếm và đăng tin tìm kiếm nhưng không có tin tức gì của ông N. Sau khi thụ lý đơn, Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị tuyên bố mất tích số 02/2020/QĐ-TA ngày 10/4/2020, đăng thông báo trên các phương tiện thông tin nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì về người bị yêu cầu mất tích là ông N. Vì vậy, đề nghị Tòa án căn cứ vào Các Điều 384, 385, 388, 368, 369, 379 của Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật dân sự, pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông T, tuyên bố ông Nguyễn Văn N mất tích theo quy định tại Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự. Buộc ông Nguyễn Văn T phải chịu Lệ Phí, chi phí tố tụng theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước nhận định:
. Về tố tụng:
Ông Nguyễn Văn T yêu cầu Tòa án làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố em ruột của mình là ông Nguyễn Văn N mất tích. Xét thấy ông N và ông T có quan hệ thân thích, ông N có nơi cư trú tại xã M, huyện C tỉnh Bình Phước trước khi biệt tích. Căn cứ khoản 3 Điều 27; Điểm b, khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. Tòa án xác định đây là việc dân sự về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
Do ông T có đơn yêu cầu nên Tòa án xác định ông T là người yêu cầu. Ông N bị ông T làm đơn yêu cầu tuyên bố ông N mất tích nên Tòa án xác định ông N là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Đến thời điểm Tòa án mở phiên họp ông T có mặt, ông N vắng mặt nên Căn cứ Điều 367 pháp luật tố tụng dân sự, nên Tòa án quyết định T hành phiên họp xét đề nghị tuyên bố ông Nguyễn Văn N là mất tích theo yêu cầu của ông Nguyễn Văn T.
Về nội dung:
. Căn cứ vào lời trình bày của ông T, đối chiếu với các tài liệu chứng cứ do ông T giao nộp, biên bản xác minh tại địa phương xã Minh H tòa án xác định ông Nguyễn Q, sinh năm 1956 (đã chết) và bà Phạm Thị A, sinh năm 1957 (đã chết) là vợ chồng. Ông Q và bà Acó hai người con là Nguyễn Văn T, sinh năm 1979 và Nguyễn Văn N, sinh năm 1980. Từ tháng 01/2017 ông N bỏ đi cho đến nay không có tin tức. Ông T đã đi tìm, liên hệ với đài Phát thanh- truyền hình Bình Phước để đăng thông báo tìm kiếm nhưng không tìm thấy tin tức về ông N.
Xét thấy, nơi cư trú của ông N là tại ấp 3A, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước và đây cũng là nơi cư trú cuối cùng của ông N trước khi mất thông tin liên lạc. Thời điểm xác định ông N mất thông tin liên lạc tại nơi cư trú cuối cùng là từ khoảng tháng 01 năm 2017. Sau khi ông N mất tích, ông T đã tìm kiếm thông tin về ông N, đăng tin tìm kiếm nhưng không có kết quả. Ông T làm đơn yêu cầu tuyên bố ông N mất tích, sau khi thụ lý vụ việc, Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước cũng đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích và đăng thông báo trên báo Công lý trong 03 kỳ liên tiếp trên các số báo: Số 35 ngày 01/5/2020; số 36 ngày 05/5/2020 và số 37 ngày 08/5/2020; đăng trên Đài Tg nói Việt N theo hợp đồng số 266/NT/2020 ngày 19/5/2020, phát sóng vào lúc 17 giờ 30 – 18 giờ các ngày 23; 24; 25/5/2020, trên cổng thông tin diện tự Tòa án ngày 28/5/2020 nhưng đến nay hết thời hạn 04 tháng mà ông N vẫn không liên hệ với Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước; Chính quyền địa phương nơi cư trú hay người thân. Đối chiếu với Điều 68 Bộ luật dân sự thì ông T yêu cầu Tòa án tuyên bố ông N mất tích trong trường hợp này là có căn cứ được Tòa án chấp nhận.
. Quá trình giải quyết vụ việc cũng như tại phiên họp hôm nay ông T xác định ông N không có tài sản, không yêu cầu giải quyết về người quản lý tài sản của ông N sau khi Tòa án tuyên bố ông N mất tích. Do đó Tòa án không xem xét quyết định về người quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích.
. Lệ phí giải quyết việc dân sự và chi phí đăng báo, đài người yêu cầu phải chịu theo luật định.
. Quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên họp là phù hợp nhận định của Thẩm phán chủ trì phiên họp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 27; khoản 2, Điều 35, khoản 2, Điều 39, Điều 149, các Điều 387, 388, 389, 390 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 68, Điều 69 Bộ luật dân sự 2015;
- Áp dụng Khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 21/12/2016.
1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Nguyễn Văn T.
Tuyên bố: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1980; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng (Hộ khẩu thường trú): Tổ 3, ấp 3B, xã Minh Hưng, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước mất tích.
Khi quyết định tuyên bố ông N mất tích có hiệu lực pháp luật, trong trường hợp ông N có tài sản thì người đang quản lý tài sản, người có quyền lợi ích liên quan hoặc người thân thích của ông N có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết về người quản lý tài sản của ông N theo quy định của pháp luật dân sự, pháp luật tố tụng dân sự.
Hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích: Khi ông Nguyễn Văn N trở về hoặc có tin tức xác thực là ông Nguyễn Văn N xác còn sống thì theo yêu cầu của ông N hoặc người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích đối với ông N.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng lệ phí ông T đã nộp tại biên lai thu số 0004057 ngày 17/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chơn Thành, Bình Phước.
3. Chi phí đăng, phát thông tin tìm kiếm ông Nguyễn Văn N:
Ông T phải chịu số tiền 3.000.000đồng chi phí đăng báo, đài tìm kiếm người mất tích. Ông T đã nộp đủ nên không phải nộp thêm.
5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có mặt có quyền kháng cáo Quyết định này trong hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận Quyết định hoặc niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định này trong hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị Quyết định này trong hạn theo luật định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND Chơn Thành; - Đương sự; - UBND xã Minh Hưng; - Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trương Quốc Khánh |