vanban.org

Quyết định 06/2019/QĐST-DS — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

TAND TP. Huế Tuyên án 03/06/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 11/2018/TLST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2018 về việc Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, giữa:

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hà M, sinh năm 1954; nơi cư trú: K28/14 PT, Tổ 30, phường MA, quận N, thành phố Đà Nẵng. * Các bị đơn: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, giữa: * Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hà M và Các bị đơn: - Ông Tôn Thất Đ,Hoàng Văn N ,Hồ Th…"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 11/2018/TLST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2018 về việc Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, giữa:
  • Căn cứ chính? Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2019/QĐST-DSThừa Thiên Huế, ngày 03 tháng 6 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

Căn cứ vào các Điều 48, 217, 218, 219 và khoản 2, khoản 3 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm;

Xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hà M đến để làm việc lần thứ nhất vào ngày 15/3/2019, lần thứ hai vào ngày 11/4/2019 và lần thứ ba vào ngày 17/5/2019. Bà M đã ký nhận giấy triệu tập các lần nêu trên vào phiếu báo phát của Bưu điện nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không đến Tòa án để làm việc theo yêu cầu của Tòa án và cũng không có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Đây là trường hợp phải đình chỉ giải quyết vụ án dân sự quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 11/2018/TLST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2018 về việc Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, giữa:

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hà M, sinh năm 1954; nơi cư trú: K28/14 PT, Tổ 30, phường MA, quận N, thành phố Đà Nẵng.

* Các bị đơn:

- Ông Tôn Thất Đ, sinh năm 1971; nơi cư trú: 55 NCT, phường PH, thành phố H.

- Ông Hoàng Văn N (Hoàng Văn M), sinh năm 1934; nơi cư trú: Thôn DM, xã PM, huyện PV, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Bà Hồ Thị Thanh L, sinh năm 1961; nơi cư trú: 64 NĐK, phường TL, thành phố H.

Tòa án xóa tên vụ án trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo cho các đương sự nếu có yêu cầu.

2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:

- Bà Nguyễn Thị Hà M có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự này theo quy định tại khoản 1 Điều 218 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về tiền tạm ứng án phí:

+ Đối với khoản tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm do nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hà M đã nộp gồm: Số tiền 700.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 002368 ngày 28/12/2011 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế; số tiền 750.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 002395 ngày 01/02/2012 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế; số tiền 262.500 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 005037 ngày 19/6/2014 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế. Toàn bộ khoản tiền tạm ứng án phí này được sung vào công quỹ nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 218 của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Đối với số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 200.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 005088 ngày 06/5/2015 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế: Bà Nguyễn Thị Hà M được hoàn trả lại theo quyết định của bản án dân sự phúc thẩm số 53/2017/DS-PT ngày 26/7/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. * Nơi nhận:

Cỡ chữ