vanban.org

Quyết định 06/2019/QĐ-PT

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 30/12/2019 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/12/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp đơn kháng cáo của người khởi kiện bà Lê Thị B. Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 31/2019/QĐST-HC ngày 11-9-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Về án phí: Án phí hành chính sơ thẩm sẽ được Tòa án xác định lại khi xét xử sơ thẩm lại. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai"
  • Tòa quyết gì? Chấp đơn kháng cáo của người khởi kiện bà Lê Thị B. Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 31/2019/QĐST-HC ngày 11-9-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính; Điều 243 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG
06/2019/QĐ-PT
Đà Nẵng, ngày 30 tháng 12 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thúy Cầu

Các Thẩm phán:

Ông Đặng Kim Nhân

Ông Võ Ngọc Thông

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Xuân Thanh, Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 31/2019/QĐST-HC ngày 11 tháng 9 năm 2019, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã căn cứ vào khoản 5 Điều 38, Điều 143, Điều 144 Luật tố tụng hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về “Kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, giữa:

* Người khởi kiện: Bà Lê Thị B, sinh năm 1958.

Địa chỉ: Số 22 đường N, Tổ dân phố 6, thị trấn B1, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

* Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu T, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K (Theo văn bản ủy quyền số 507/GUQ ngày 26-7-2018).

* Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trần Bá C và bà Cao Thị N1.

Địa chỉ: Buôn M, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

2. Ngân hàng Thương mại Cổ phần P, Chi nhánh Đắk Lắk- Phòng giao dịch E1;

Địa chỉ: Số 429 đường L, phường E1, thành phố B1, tỉnh Đắk Lắk.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Đình T1 - Giám đốc Chi nhánh Đắk Lắk, Phòng giao dịch E1, thành phố B1, tỉnh Đắk Lắk.

3. Ông Phan Quốc V, bà Nguyễn Thị H.

Địa chỉ: 150C đường P1, phường K1, thành phố B1, tỉnh Đắk Lắk.

4. Ông Phạm Văn Th và bà Phan Thị L.

Địa chỉ: Tổ dân phố 7, thị trấn B1, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Ngày 20-9-2019, người khởi kiện bà Lê Thị B kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 31/2019/QĐST-HC ngày 11-9-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk với lý do không đồng ý với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính nêu trên.

XÉT THẤY:

Nguồn gốc diện tích đất tranh chấp 242 m2 thuộc thửa đất số 352, tờ bản đồ số 06, được Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 17/6/2007 cho hộ ông Trần Bá C và bà Cao Thị N1 tại tổ dân phố 6, thị trấn B1, huyện K nguyên trước đây là của vợ chồng ông Nguyễn Đình Tr, bà Lê Thị B. Thể hiện: Ngày 29/8/1990, Ủy ban nhân dân huyện K đã cấp GCNQSDĐ số A087532 cho ông Nguyễn Đình Tr, bà Lê Thị B đối với diện tích 1.290 m2 đất thửa đất số 56, tờ bản đồ số 06. Vào năm 1991, ông Tr, bà B và ông Nguyễn Đình B2 sang nhượng cho nhau diện tích 528 m2 nhưng không ghi giấy tờ. Tháng 10/1994, ông Nguyễn Đình B2 sang nhượng lại diện tích đất này cho ông Phạm Văn Th bằng giấy viết tay. Ngày 28/9/2006, ông Phạm Văn Th đã được Ủy ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 616661 đối với thửa đất số 56, tờ bản đồ số 06, diện tích 528 m2 tách ra từ thửa đất của bà Lê Thị B. Sau đó, ông Th chuyển nhượng một phần diện tích 242 m2 đất cho ông Phan Quốc V và được Ủy ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 29/01/2007. Ông V tiếp tục chuyển nhượng cho ông Trần Bá C và bà Cao Thị N1 và được UBND K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 737659. Trong quá trình giải quyết tại Ủy ban nhân dân tại địa phương, ông Tr, bà B không đồng ý nên đã làm đơn khiếu nại. Ngày 04/7/2007, Thanh tra tỉnh đề nghị xử lý đơn khiếu nại của bà B. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk có văn bản yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K thực hiện theo đề nghị của Thanh tra tỉnh với lý do Ủy ban nhân dân huyện giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Th, ông Tr và bà B là không đúng thẩm quyền. Ngày 24/8/2007, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K đã ban hành Quyết định số 2754/QĐ-CT về việc hủy Quyết định 102/QĐ-UBND về giải quyết tranh chấp sử dụng đất giữa ông Th và ông Tr, bà B. Ngày 13/5/2008, Ủy ban nhân dân huyện K đã ban hành Quyết định số 754/QĐ-UBND về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 616661 đối với thửa đất số 56, tờ bản đồ số 06, diện tích 528 m2 đã cấp cho hộ ông Th trong khi ông Th đã chuyển nhượng diện tích 242 m2 đất cho ông V và ông V đã sang nhượng cho ông Trần Bá C, bà Cao Thị N1. Ngày 02/01/2011, ông Trần Bá C, bà Cao Thị N1 thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Ngân hàng Thương mại và Cổ phần P, chi nhánh Đắk Lắk để vay số tiền 1.500.000.000 đồng. Do không có tiền trả nợ, Ngân hàng Thương mại và Cổ phần P, chi nhánh Đắk Lắk đã khởi kiện và được Tòa án huyện K ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự số 61/2013/QĐST-DS ngày 20/9/2013.

Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng đối tượng khởi kiện hành chính trong vụ án này là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 737659 do Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 17/6/2007 cho hộ ông Trần Bá C và bà Cao Thị N1, chính là đối tượng quyền sử dụng đất đã được thế chấp tại Ngân hàng để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ đối với Hợp đồng tín dụng để đình chỉ vụ án là không đúng, vì: Ngân hàng Thương mại và Cổ phần P, chi nhánh Đắk Lắk trước đây khởi kiện ông Trần Bá C, bà Cao Thị N1 là quan hệ tranh chấp Hợp đồng vay tài sản giữa các đương sự. Trong khi, hiện nay bà B khởi kiện vụ án hành chính đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ông Trần Bá C và bà Cao Thị N1. Hơn nữa, đối với diện tích đất tranh chấp thì Ủy ban nhân dân huyện K đã ban hành Quyết định số 754/QĐ-UBND về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 616661 đối với thửa đất số 56, tờ bản đồ số 06, diện tích 528 m2 đã cấp cho hộ ông Th. Thực tế, phần diện tích 242 m2 đất tranh chấp mà ông V nhận chuyển nhượng của ông Th, sau đó ông V chuyển nhượng cho ông C và bà N1 nằm trong diện tích 1.290 m2 đất của ông Tr, bà B đang sử dụng, điều này phù hợp với Công văn 130/CV-UBND ngày 25/02/2019 của UBND huyện K xác định cấp chồng lấn diện tích đất.

Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng có cơ sở chấp nhận đơn kháng cáo của bà Lê Thị B. Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 31/2019/QĐST-HC ngày 11-9-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Căn cứ điểm c khoản 5 Điều 243 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp đơn kháng cáo của người khởi kiện bà Lê Thị B. Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 31/2019/QĐST-HC ngày 11-9-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

2. Về án phí: Án phí hành chính sơ thẩm sẽ được Tòa án xác định lại khi xét xử sơ thẩm lại.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.

Cỡ chữ