vanban.org

Quyết định 06/2018/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND TP. Yên Bái, tỉnh Yên Bái Tuyên án 30/10/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H

Tuyên bố: Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1986 ; địa chỉ: tổ 31, phường YT, thành phố Y, tỉnh Yên Bái là người mất năng lực hành vi dân sự. Lệ phí sơ thẩm việc dân sự: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0007… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Nguyễn Thị Thu Nh"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2018/QĐST-VDSYên Bái, ngày 30 tháng 10 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Hồng Phượng

Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Bích Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Lê Oanh – Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 59/2018/TLST-VDS ngày 28-9-2018 về việc “ Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”, theo quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 93/2018/QĐST-VDS ngày 23-10-2018, gồm những người tham gia tố tụng sau:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị H. Có mặt

Địa chỉ: Tổ 31, phường YT, thành phố Y, tỉnh Yên Bái

Người liên quan đến việc yêu cầu:

- Chị Nguyễn Thị Thu N - Vắng mặt

- Bà Ngô Thị T – vắng mặt

Cùng địa chỉ: Tổ 31, phường YT, thành phố Y, tỉnh Yên Bái

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu đề ngày 26-9-2018, bản tự khai và tại phiên họp, người yêu cầu chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị Nguyễn Thị Thu N là em gái của chị Nguyễn Thị H. Chị N bị di chứng bại não từ 09 tháng tuổi, mọi sinh hoạt cá nhân đều không tự làm được phải có người chăm sóc (bà Ngô Thị T và chị Nguyễn Thị H chăm sóc) và không có khả năng nhận thức. Ngày 23-10-2013 chị N được Ủy ban nhân dân phường YT, thành phố Y, tỉnh Yên Bái cấp giấy xác nhận khuyết tật dạng: Trí tuệ, tâm thần, thần kinh, vận động, nghe nói; mức độ khuyết tật: đặc biệt nặng. Nay chị H yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị Thu N mất năng lực hành vi dân sự.

Cùng với yêu cầu của mình, chị H cung cấp cho Tòa án: Giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị H; Sổ hộ khẩu; Sơ yếu lý lịch và giấy xác nhận khuyết tật, sổ lĩnh tiền ưu đãi hàng tháng (bản sao có chứng thực).

Quá trình giải quyết việc dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 29/2018/QĐ-TCGĐ ngày 03-10-2018, trưng cầu Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc thực hiện giám định sức khỏe tâm thần để đánh giá năng lực hành vi dân sự đối với chị Nguyễn Thị Thu N.

Tại kết luận giám định sức khỏe tâm thần số 36/2018/SKTT ngày 12-10-2018 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc kết luận: Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1986 bị bệnh Chậm phát triển tâm thần (chẩn đoán theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần và hành vi – F72). Hiện tại: Nguyễn Thị Thu N mất năng lực hành vi dân sự.

Tại phiên họp, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu, không cung cấp thêm chứng cứ nào khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự:

Căn cứ các điều 22 Bộ luật dân sự; các điều 149, 378 Bộ luật tố tụng dân sự. đề nghị Tòa án

- Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị H: Tuyên bố chị Nguyễn Thị Thu N mất năng lực hành vi dân sự.

- Về lệ phí việc dân sự: Chị H phải chịu lệ phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái nhận định:

[1] Về tố tụng: Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của chị Nguyễn Thị H là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Hiện nay, chị N đang cư trú tại tổ 31, phường YT, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Căn cứ quy định điểm a khoản 2 điều 35 và điểm a khoản 2 điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

Do yêu cầu của chị H liên quan đến quyền dân sự về nhân thân của cá nhân, nên không áp dụng thời hiệu yêu cầu.

Về nội dung việc dân sự: Khi 09 tháng tuổi chị N bị sốt cao co giật, gia đình cho điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái, để lại di chứng liệt hai chi dưới không đi lại được, không biết nói chỉ ú ớ được những câu vô nghĩa, cười ngây ngô. Tình trạng bệnh tiến triển liên tục ngày càng tăng dần, chị N không có khả năng lao động và tự phục vụ, mọi sinh hoạt, vệ sinh cá nhân đều phải có người chăm sóc, hiện chị N đang sống cùng mẹ và chị gái. Theo Kết luận giám định sức khỏe tâm thần số 36/2018/SKTT ngày 12-10-2018 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc kết luận: Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1986 bị bệnh Chậm phát triển tâm thần (chẩn đoán theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần và hành vi –F72). Hiện tại: Nguyễn Thị Thu N mất năng lực hành vi dân sự.

Nay chị H yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố chị Nguyễn Thị Thu N mất năng lực hành vi dân sự.

Xét yêu cầu của chị H cùng các tài liệu chị H nộp kèm theo: Giấy xác nhận khuyết tật số 15/132/04249/052 ngày 23-10-2013 của Ủy ban nhân dân phường YT, thành phố Y, tỉnh Yên Bái cấp giấy xác nhận khuyết tật cho chị N khuyết tật dạng: Trí tuệ, tâm thần, thần kinh, vận động, nghe nói; mức độ khuyết tật: đặc biệt nặng và kết luận giám định sức khỏe tâm thần số: 36/2018/SKTT ngày 12-10-2018 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị H về tuyên bố chị Nguyễn Thị Thu N mất năng lực hành vi dân sự.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị H phải nộp lệ phí theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 điều 27, điểm a khoản 2 điều 35, điểm a khoản 2 điều 39, các điều 149, 184, 371, 372, 378 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 22 Bộ luật Dân sự.

- Căn cứ khoản 1 điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H

Tuyên bố: Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1986 ; địa chỉ: tổ 31, phường YT, thành phố Y, tỉnh Yên Bái là người mất năng lực hành vi dân sự.

2. Lệ phí sơ thẩm việc dân sự: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/000785 ngày 28-9-2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên họp được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định, các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

4. Quyền kháng nghị: Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

5. Trường hợp quyết định này được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ