vanban.org

Quyết định 06/2018/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị T và anh Thái Bá T.

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: Con chung: Chị Hoàng Thị T tực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Thái Hoàng Gia B, sinh ngày 26/10/2016 cho đến tuổi trưởng thành (18 tuổi) kể từ tháng 01 năm 2018 trở đi. Anh Thái Bá T có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị T và anh Thái Bá T.
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲ HỢP
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06 /2018/QĐST-HNGĐQuỳ Hợp, ngày 17 tháng 01 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số: 150/ 2017/TLST-HNGĐ, ngày 31 tháng 10 năm 2017, giữa: Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T: Sinh năm: 1996. Trú tại: Xóm H, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Và bị đơn: Anh Thái Bá T: Sinh năm: 1995. Trú tại: Xóm P, xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Căn cứ vào Điều 212; 213 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào các điều 55; 58; 81; 82; 83; 84; 107; 110; 116 và 117 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 08 tháng 01 năm 2018.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 08 tháng 01 năm 2018 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị T và anh Thái Bá T.

2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

+ Con chung: Chị Hoàng Thị T tực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Thái Hoàng Gia B, sinh ngày 26/10/2016 cho đến tuổi trưởng thành (18 tuổi) kể từ tháng 01 năm 2018 trở đi. Anh Thái Bá T có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ ( Một triệu đồng chẵn ) theo định kỳ hàng tháng kể từ tháng 01 năm 2018 cho đến khi con đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

+ Tài sản chung: Chị Hoàng Thị T và anh Thái Bá T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về án phí: Anh Thái Bá T phải chịu 150.000đ ( Một trăm năm mươi nghìn đồng chẵn ) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Hoàng Thị T và anh Thái Bá T thỏa thuận chị T chịu toàn bộ tiền án phí DSST 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng chẵn), khoản tiền trên được khấu trừ cho chị T đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0000170, ngày 31/ 10/ 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q, tỉnh Nghệ An. Hoàn trả lại cho chị Hoàng Thị T số tiền 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng chẵn).

Kể từ ngày người được thi hành án làm đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả thì hàng tháng phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

“ Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự;”

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ