- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Công nhận thuận tình ky hôn giữa Lê Thanh H và Nguyễn Thị Trà G"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Trà G và anh Lê Thanh H.
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Quyết định số 06/2018/QĐHNGĐ-ST Ngày 23-01-2018 “V/v công nhận thuận tình ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
- Chủ tọa phiên họp: Bà Trương Thị Lệ Thu - Thẩm phán.
- Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Thúy Hạnh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Phan Lệ Thúy– Kiểm sát viên.
Ngày 23-01-2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 02/2018/TLST-HNGĐ ngày 04/01/2018 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, Theo Quyết định mở phiên họp số 06/2018/QĐ-TA ngày 12/01/2018.
Người yêu cầu giải quyết việc HNGĐ:
1. Anh Lê Thanh H, sinh năm 1988; địa chỉ: Khối 6, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh;
2. Chị Nguyễn Thị Trà G, sinh năm 1989; địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khối 6, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Cộng hòa Séc.
Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Thanh H và chị Nguyễn Thị Trà G yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn.
Về quan hệ con chung: Có 01 con chung Lê Bảo A, sinh ngày 01/10/2012. Hai đương sự thống nhất giao con chung cho anh Lê Thanh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết.
Đại diện VKSND tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thống nhất được với nhau nên đề nghị Tòa án chấp nhận sự thỏa thuận của anh Lê Thanh H và chị Nguyễn Thị Trà G về tình cảm và con chung. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình được thẩm tra tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Chị Nguyễn Thị Trà G hiện đang lao động tại Cộng Hòa Séc, có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng hòa Séc nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật TTDS năm 2015, đồng thời chị có yêu cầu ủy quyền việc giao nhận tài liệu chứng cứ cho anh H và xin được xét xử vắng mặt, căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt chị G theo thủ tục chung.
Về nội dung:
Quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Trà G và anh Lê Thanh H đăng ký kết hôn vào ngày 19/3/2012 tại UBND phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Là hôn nhân tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối, xuất phát từ tình yêu nam nữ, đăng ký kết hôn hợp pháp. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo sự thừa nhận của cả hai là do bất đồng quan điểm. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2016. Năm 2017, chị Giang đi lao động nước ngoài, từ đó đến nay chưa về nước. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn nên hai đương sự thống nhất thuận tình ly hôn.
Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau…nhưng cuộc hôn nhân của anh Lê Thanh H và chị Nguyễn Thị Trà G không đạt được mục đích đó, vợ chồng thiếu sự quan tâm, chia sẻ.
Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn....”(Điều 55)
Quan hệ con chung: Cháu Lê Bảo A, sinh ngày 01/10/2012. Từ khi chị G đi lao động nước ngoài đến nay, anh H là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu A. Cháu phát triển tốt về thể chất và tinh thần, đồng thời hai đương sự cũng thống nhất giao con chung cho anh Lê Thanh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu thuận tình ly hôn của họ để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới.
Căn cứ Điều 51, 55, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 361, 367, 369, 370, 371, Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35, 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Trà G và anh Lê Thanh H.
2. Về con chung: Chấp nhận sự thỏa thuận giao con chung Lê Bảo A, sinh ngày 01/10/2012 cho anh Lê Thanh H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Trà G có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Các bên đương sự tự thỏa thuận.
2. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000đ lệ phí ly hôn sơ thẩm của anh Lê Thanh H (đã nộp tại biên lai số 001187 ngày 28/12/2017 tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh).
Phiên họp công khai có mặt anh H, vắng mặt chị G (có lý do).
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.
| Nơi nhận - TAND cấp cao; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh; - UBND phường Đ, TX H; - Đương sự ; - Lưu HS, TDS. | THẨM PHÁN- CHỦ TRÌ PHIÊN HỌP Trương Thị Lệ Thu |