- Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Ngọc N yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi với cháu Vũ Thiên K."
- Tòa quyết gì? [1]. Chấp nhận đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà Nguyễn Châu Ngọc N.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 06/2018/QĐDS-ST. Ngày: 23 - 8 – 2018. V/v: “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
--------------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
- Chủ tọa phiên họp: Ông Võ Xuân Sơn - Thẩm phán
- Thư ký phiên họp: Ông Đặng Quang Tuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Tất Bắc - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 276/2018/TLST-DS ngày 13 tháng 7 năm 2018 về “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” theo Quyết định mở phiên họp số: 139/2018/QĐPH-ST ngày 13 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Châu Ngọc N, sinh năm 1983;
Nơi cư trú: Số nhà 47, đường Tổ 7 – 16, Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Đình C, sinh năm: 1978
Nơi cư trú: Số nhà 47, đường Tổ 7 – 16, Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai.
- Chị Vũ Thị Ngọc T, sinh năm: 1995
Nơi cư trú: Tổ 5, Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai.
(Bà N, ông C, chị T có mặt).
3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Bà Nguyễn Châu Ngọc N yêu cầu Tòa án tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa cha nuôi là ông Phạm Đình C, mẹ nuôi là bà Nguyễn Châu Ngọc N đối với con nuôi là cháu Vũ Thiên K, sinh ngày 16/5/2017.
4. Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tham gia phiên họp: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Châu Ngọc N yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa cha nuôi là ông Phạm Đình C, mẹ nuôi là bà Nguyễn Châu Ngọc N đối với con nuôi là cháu Vũ Thiên K, sinh ngày 16/5/2017; về lệ phí sơ thẩm việc dân sự: Bà Nguyễn Châu Ngọc N phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí việc dân sự, được tính trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp; quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
- Tại phiên họp bà Nguyễn Châu Ngọc N, ông Phạm Đình C, chị Vũ Thị Ngọc T có mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc dân sự theo quy định.
- Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Châu Ngọc N, nơi cư trú: Số nhà 47, đường Tổ 7 – 16, Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa cha nuôi là ông Phạm Đình C, mẹ nuôi là bà Nguyễn Châu Ngọc N đối với con nuôi là cháu Vũ Thiên K, sinh ngày 16/5/2017, hiện cư trú: Tổ 5, Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 5 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm l khoản 2 Điều 39; Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10, khoản 1, 3 Điều 26 của Luật nuôi con nuôi năm 2010, xác định bà Nguyễn Châu Ngọc N là người yêu cầu; ông Phạm Đình C, chị Vũ Thị Ngọc T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; quan hệ pháp luật là “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” và việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu.
. Về nội dung:
Theo lời trình bày của bà Nguyễn Châu Ngọc N: Năm 2017, chị Vũ Thị Ngọc T sinh được một cháu gái ngoài giá thú (người cha không xác định được) đặt tên là Vũ Thiên K, sinh ngày 16/5/2017. Lúc này do điều kiện kinh tế khó khăn, chị T không đủ điều kiện nuôi con nên chị T đã làm thủ tục cho con nuôi là cháu Vũ Thiên K và cha mẹ nuôi là vợ chồng bà (vợ chồng bà cũng là bà mợ, ông cậu của cháu K). Các thủ tục cho và nhận nuôi con nuôi đều làm đúng theo quy định của pháp luật và vợ chồng bà đã được UBND xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 01 quyển số 01/2017 ngày 30/5/2017. Sau khi nhận nuôi cháu K, vợ chồng bà đã đưa cháu Vũ Thiên K về nuôi được 6 tháng. Sau đó do gia đình bà khó khăn về kinh tế, có 02 người con ruột, cháu K chỉ là con nuôi, không phải là con ruột nên việc chăm sóc đối với cháu K không được tốt. Lúc này chị T cũng đã đi làm, có khả năng nuôi con và thương cháu K nên chị T đã xin ông bà được đưa cháu K về nhà nuôi dưỡng. Ông bà đã giao cháu K cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng từ tháng 12/2017 cho đến nay. Nay bà đề nghị Tòa án tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa vợ chồng ông bà đối với cháu Vũ Thiên K để chị Vũ Thị Ngọc T là mẹ ruột của cháu Vũ Thiên K trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và làm người giám hộ cho cháu K theo quy định.
Theo lời trình bày của ông Phạm Đình C: Qua đơn yêu cầu, lời trình bày của bà Nguyễn Châu Ngọc N (vợ của ông) ông hoàn toàn thống nhất và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi theo yêu cầu của bà N.
Theo lời trình bày của chị Vũ Thị Ngọc T: Qua đơn yêu cầu, lời trình bày của bà Nguyễn Châu Ngọc N (mợ của chị) chị hoàn toàn thống nhất và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi theo yêu cầu của bà N.
Theo kết quả xác minh và chứng cứ có tại hồ sơ thể hiện: Ngày 30/5/2017, ông Phạm Đình C và bà Nguyễn Châu Ngọc N (ông C là ông cậu, bà N là bà mợ của cháu K) nhận cháu Vũ Thiên K, sinh ngày 16/5/2017 theo giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 01, quyển số 01/2017, ngày 30/5/2017 của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
Sau khi nhận cháu K làm con nuôi, vợ chồng ông C, bà N đã đưa cháu Vũ Thiên K về nuôi được 6 tháng. Sau đó gia đình khó khăn về kinh tế, có 02 người con ruột, cháu K chỉ là con nuôi, không phải là con ruột nên việc chăm sóc đối với cháu K không được tốt. Lúc này chị T cũng đã đi làm, có khả năng nuôi con và thương cháu K nên chị T đã xin ông C bà N được đưa cháu K về nhà nuôi dưỡng. Ông C bà N đã giao cháu K cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng từ tháng 12/2017 cho đến nay. Chị T hiện nay có nhà ở, công việc làm ổn định, có đủ điều kiện để nuôi con ruột của mình là cháu Vũ Thiên K.
Xét yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà Nguyễn Châu Ngọc N là có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ: Về quan hệ huyết thống ông Phạm Đình C là em ruột của mẹ chị Vũ Thị Ngọc T nên cháu Vũ Thiên K gọi ông C là ông cậu, gọi bà Nguyễn Châu Ngọc N là bà mợ. Mặt khác khi đưa cháu K về nuôi dưỡng, ông C, bà N đã có sự phân biệt đối xử giữa 02 người con ruột với con nuôi là vi phạm điều cấm được quy định khoản 3, 6 Điều 12 của Luật nuôi con nuôi năm 2010 . Do đó yêu cầu của bà Nguyễn Châu Ngọc N là có cơ sở nên chấp nhận.
. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân gia đình: Căn cứ Điều 149, 150 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 4, khoản 1 Điều 6, Điều 9, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội và tiểu mục 1 mục I phần B của Danh mục án phí và lệ phí Tòa án được ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, bà Nguyễn Châu Ngọc N phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân gia đình, được tính trừ 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai thu số 004702 ngày 13/7/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu. Bà Nguyễn Châu Ngọc N đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân gia đình.
. Xét quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên họp phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm l khoản 2 Điều 39, Điều 68, Điều 149, 150, 367, 369, 370, 371, 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10, khoản 3, 6 Điều 13, Điều 25, khoản 1, 3 Điều 26, Điều 27 của Luật nuôi con nuôi năm 2010; khoản 1 Điều 4, khoản 1 Điều 6, Điều 9, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội và tiểu mục 1 mục I phần B của Danh mục án phí và lệ phí Tòa án được ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
[1]. Chấp nhận đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà Nguyễn Châu Ngọc N.
Chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa cha nuôi ông Phạm Đình C, mẹ nuôi bà Nguyễn Châu Ngọc N với con nuôi là cháu Vũ Thiên K theo Giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 01 quyển số 01/2017 ngày 30/5/2017 của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
Giao cháu Vũ Thiên K, sinh ngày 16/5/2017 cho chị Vũ Thị Ngọc T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đẻ đã chấm dứt theo quy định của pháp luật được khôi phục.
[2]. Về Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân gia đình: Bà Nguyễn Châu Ngọc N phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được tính trừ 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai thu số 004702 ngày 13/7/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu. Bà Nguyễn Châu Ngọc N đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân gia đình.
[3]. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Châu Ngọc N, ông Phạm Đình C, chị Vũ Thị Ngọc T được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Đương sự (03); - VKSND H. Vĩnh Cửu (02); - Chi cục THADS H. Vĩnh Cửu (01); - UBND xã Vĩnh Tân, H. Vĩnh Cửu (01); - Cổng TTĐT TANDTC (khi có hiệu lực); - Lưu hồ sơ việc dân sự, văn phòng Tòa án; | THẨM PHÁN (Đã ký tên, đóng dấu) Võ Xuân Sơn |