vanban.org

Quyết định 06/2017/QĐ-PT — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Lào Cai Tuyên án 12/09/2017 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/09/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 02/2017/QĐST - DS ngày 04/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai.

Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Chị Vũ Thị Tuyết H và anh Trần Công L mỗi người phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận chị H và anh L mỗi người đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng ) tiền tạm ứng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn chị Bùi Hồng TH và bị đơn chị Vũ Thị Tuyết H"
  • Tòa quyết gì? Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 02/2017/QĐST - DS ngày 04/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai.
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2017/QĐ-PTLào Cai, ngày 12 tháng 9 năm 2017

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Lù Làn Din.

Các Thẩm phán:

Ông Vũ Minh Quán.

Ông Hoàng Hữu Khoa.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 02/2017/QĐST - DS ngày 04/7/2017.

Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai đã căn cứ vào các Điều 48, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 03/2015/TLST - DS ngày 09 tháng 11 năm 2015 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa:

* Nguyên đơn: Chị Bùi Hồng TH;

Địa chỉ: Số nhà 379, đường L, Phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Xuân D.

Địa chỉ: Số nhà 112, đường Trần Đăng N, Phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

* Bị đơn: Chị Vũ Thị Tuyết H;

Nơi ĐKHKTT: Xã Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Trú tại: Thôn L, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai.

Người đại diện theo ủy quyền : Ông Nguyễn Văn T.

Địa chỉ: Công ty luật hợp danh Đ - Số 76 C, phường Kh, Quận Th, thành phố Hà Nội.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Trần Công L;

Địa chỉ: Đội 1, thôn K, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.

Người đại diện theo ủy quyền của anh Trần Công L : Ông Nguyễn Văn T.

Địa chỉ: Công ty luật hợp danh Đ - Số 76 C, phường Kh, Quận Th, thành phố Hà Nội.

2. Văn phòng công chứng H.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quang V - Trưởng văn phòng.

Địa chỉ: Số nhà 103, đường C, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

Người kháng cáo: Chị Vũ Thị Tuyết H và anh Trần Công L.

Ngày 17/7/2017 bị đơn chị Vũ Thị Tuyết H và anh Trần Công L có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai: Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 02/2017/QĐST - DS ngày 04/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai và ra quyết định bổ sung chị H2 (con đẻ của chị H) vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

XÉT THẤY:

Ngày 21/9/2011 chị Bùi Hồng TH và chị Vũ Thị Tuyết H có thỏa thuận về việc chuyển nhượng 03 thửa đất và tài sản gắn liền với đất tại Thôn L, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai và cả 03 thửa đất đều có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cả ba hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị TH và chị H đều tự nguyện thỏa thuận và được công chứng tại Văn phòng công chứng H.

Theo thỏa thuận chị TH đã thực hiện nghĩa vụ thanh toán tổng số tiền 500.000.000đ cho chị H. Tuy nhiên khi thực hiện việc đăng ký quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Ủy ban nhân dân huyện B thì chị H có đơn đề nghị không nhất trí việc mua bán như đã thỏa thuận, ký kết với nhau.

Chị TH cho rằng việc làm của chị H là vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho chị TH. Do đó ngày 01/11/2015, nguyên đơn chị Bùi Hồng TH đã có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện B buộc chị Vũ Thị Tuyết H phải thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất như thỏa thuận và ký kết.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn chị Vũ Thị Tuyết H và người có quyền lợi liên quan anh Trần Công L: Ông Nguyễn Văn T không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cho rằng: Cả 03 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị H và chị TH được ký trong thời gian chị H đang điều trị bệnh T thần. Mặt khác, tài sản ghi trong 03 hợp đồng này là tài sản chung của vợ chồng chị H và anh L trong thời kỳ hôn nhân nên phải được sự đồng ý của anh L. Do vậy đề nghị Tòa án nhân dân huyện B tuyên bố cả 03 hợp đồng trên vô hiệu.

Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng công chứng H - Ông Dương Quang V trình bày: Quá trình hai bên tiến hành làm hợp đồng chuyển nhượng tại văn phòng công chứng là hoàn toàn tự nguyện, có đủ năng lực hành vi dân sự và thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện B tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ và ngày 13/9/2016 đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Ngày 20/9/2016 Tòa án nhân dân huyện B đã ra quyết định số 04 quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự với lý do đương sự mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật. Cần đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu theo yêu cầu của Tòa án.

Ngày 07/3/2017 Tòa án nhân dân huyện B ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự.

Ngày 31/3/2017 bị đơn chị Vũ Thị Tuyết H có đơn đề nghị đưa con gái là chị H2 - sinh ngày 05/8/1995 vào tham gia tố tụng trong vụ án.

Ngày 31/3/2017 chị H2 và ông Nguyễn Văn T là đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi liên quan anh Trần Công L có đơn yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án tuyên bố cả 03 hợp đồng chuyển nhượng đều vô hiệu. Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm lại không thụ lý yêu cầu độc lập của chị H2 và ông T.

Ngày 3/7/2017 nguyên đơn chị Bùi Hồng TH có đơn xin rút đơn khởi kiện.

Ngày 04/7/2017 Tòa án nhân dân huyện B ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 02/2017/QĐST-DS.

Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng phiên họp phúc thẩm nhận thấy: Việc quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” là đúng quy định của pháp luật vì nguyên đơn đã rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Tuy nhiên,việc ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án chỉ có một thẩm phán là không đúng quy định bởi vì vụ án đang ở giai đoạn xét xử nên việc giải quyết là phải do hội đồng xét xử quyết định.

Đối với yêu cầu độc lập của chị H2 và anh Trần Công L do Tòa án cấp sơ thẩm chưa thụ lý nên quyền và lợi ích của chị H2 và anh L không bị ảnh hưởng, chị H2 và anh L có quyền khởi kiện lại bằng một vụ án khác. Do đó, kháng cáo của chị Vũ Thị Tuyết H và anh Trần Công L là không có căn cứ chấp nhận nên cần giữ nguyên quyết định sơ thẩm.

Chị Vũ Thị Tuyết H và anh Trần Công L kháng cáo nhưng không được chấp nhận nên chị H và anh L phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ Điều 314 khoản 5 điểm a Bộ luật tố tụng Dân sự,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 02/2017/QĐST - DS ngày 04/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai.

2. Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Chị Vũ Thị Tuyết H và anh Trần Công L mỗi người phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận chị H và anh L mỗi người đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng ) tiền tạm ứng án phí tại biên lai số: 0002917 và 0002918 ngày 27/7/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện B, số tiền này được khấu trừ vào số tiền án phí phải nộp.

3. Các quyết định khác của quyết định sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ