- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức P,"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức P, sinh ngày 08 tháng 02 năm 2002; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã M, huyện V, tỉnh Hà Giang; nơi ở hiện nay: Lang thang (Không có nơi cư trú ổn định).
- Căn cứ chính? Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁNNHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/QĐ - TA | Phúc Yên, ngày 29 tháng 3 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Lưu Thị Thúy.
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Phương Nhật Mai.
Ngày 29 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 02/QĐ - TA ngày 22 tháng 3 năm 2023 đối với:
Họ và tên: Nguyễn Đức P
Giới tính: Nam
Sinh ngày 08 tháng 02 năm 2002.
Địa chỉ: Thôn B, xã M, huyện V, tỉnh Hà Giang.
Dân tộc: Tày
Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hoá: 10/12
Nghề nghiệp: Không.
Con ông Nguyễn Thanh L và bà Vương Thị N.
Hiện đang lưu trú tại: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc, từ ngày 18/3/2023 cho đến nay; Địa chỉ: Thôn G, xã K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đỗ Đăng Cư- Phó trưởng phòng, phụ trách phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Phúc Yên.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tham gia phiên họp: Ông Trần Hồng Khánh- Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Nguyễn Đức P là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2022 đến nay, hiện sống lang thang không có nơi cư trú và không có nghề nghiệp ổn định. Nguyễn Đức P không chịu rèn luyện để trở thành công dân có ích cho xã hội, mà sử dụng trái phép chất ma túy. Tại bản tường trình ngày 16/3/2023, Nguyễn Đức P đã thừa nhận buổi tối ngày 14 tháng 3 năm 2023, tại phường Phúc Thắng, thành phố Phúc Yên, Vĩnh Phúc, Nguyễn Đức P đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Heroine bằng hình thức hít ma túy vào cơ thể. Sau đó khoảng 21 giờ ngày 16/3/2023, Nguyễn Đức P đang tham gia giao thông (không đội mũ bảo hiểm), thì bị Công an phường Trưng Trắc yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính và lập biên bản. Công an phường Trưng Trắc tiếp tục làm việc với Nguyễn Đức P và P thừa nhận bản thân là đối tượng nghiện ma túy, chưa từ bỏ được và kết quả xét nghiệm ma túy trong cơ thể của P là dương tính. Ngày 17/3/2023 Công an phường Trưng Trắc đã lập biên bản giải thích về quyền đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc đăng ký điều trị các dạng thuốc phiện thay thế quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định: 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Tuy nhiên P đã không đăng ký và từ chối đăng ký cai nghiện tự nguyện. Vì vậy, Công an phường Trưng Trắc đã lập hồ sơ đề nghị đưa Nguyễn Đức P đi cai nghiện bắt buộc. Qua xác minh tại Công an xã M, huyện V, tỉnh Hà Giang và lời khai của gia đình P xác định: Nguyễn Đức P thường xuyên vắng mặt tại địa phương nơi cư trú, gia đình và địa phương không biết P đi đâu, làm gì đồng thời gia đình có đơn đề nghị đưa P đi cai nghiện bắt buộc. Do vậy, ngày 17 tháng 3 năm 2023 Chủ tịch UBND phường Trưng Trắc đã ra Quyết định số: 34/QĐ-QLNN về việc quản lý người nghiện ma túy, thời hạn quản lý kể từ ngày bàn giao đối tượng P cho Cơ sở cai nghiện bắt buộc tỉnh Vĩnh Phúc ngày 18/3/2023 đến khi người có thẩm quyền đưa Điệp đi áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định của Tòa án.
Với hành vi nêu trên, đại diện phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Phúc Yên đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức P theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên có ý kiến tại phiên họp khẳng định việc phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Phúc Yên lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức P đã tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục và đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính, Luật Phòng chốngma túy, Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 và Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 có hiệu lực từ ngày 01/02/2023 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân. Viện kiểm sát đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức P với thời hạn từ 15 đến 18 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp và trên cơ sở ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, của Kiểm sát viên thấy rằng:
Tài liệu có trong hồ sơ đề nghị được thu thập đầy đủ, đảm bảo về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 6, Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính, được sửa đổi bổ sung tại khoản 49 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính, được sửa đổi, bổ sung tại Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1 Điều 28 Nghị định số: 116/2021/NĐ- CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng chốngma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 có hiệu lực từ ngày 01/02/2023 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân.
Đối với Nguyễn Đức P là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2022, nhưng không có ý thức cai nghiện để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, mà vẫn tiếp tục sử dụng ma túy. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của P đã vi phạm khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chốngma túy năm 2021.
Với hành vi vi phạm nêu trên cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức P như đề nghị của phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố Vĩnh Yên là cần thiết, có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quá trình lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, P luôn tự nguyện khai báo, thành khẩn hối lỗi về hành vi vi phạm của mình nên được hưởng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Do vậy, cần xem xét thời hạn đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với P từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp.
Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021; khoản 2 Điều 9, khoản 2 Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 105 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); khoản 1 Điều 28 Nghị định: 116/2021/NĐ – CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy và Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 có hiệu lực từ ngày 01/02/2023 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức P, sinh ngày 08 tháng 02 năm 2002; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã M, huyện V, tỉnh Hà Giang; nơi ở hiện nay: Lang thang (Không có nơi cư trú ổn định).
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (Mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính được giao cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ngày 18 tháng 3 năm 2023.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên có quyền kháng nghị; Phòng lao động - Thương binh và xã hội thành phố Phúc Yên có quyền kiến nghị quyết định này; người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính có mặt có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định Phòng lao động thương binh và xã hội thành phố Phúc Yên phối hợp với Công an thành phố Phúc có trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên; - Trưởng Công an thành phố Phúc Yên; - Trưởng phòng LĐ - TB và XH thành phố Phúc Yên; - Cơ sở cai nghiện tỉnh Vĩnh Phúc; - UBND xã M; - UBND phường Trưng Trắc; - Người bị áp dụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN LƯU THỊ THÚY |