- Tranh chấp gì? "Giải quyết khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận khiếu nại của anh Lâm Minh P.
- Căn cứ chính? Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/QĐ-TA | Hậu Giang, ngày 24 tháng 6 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
Giải quyết khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Trịnh Thị Bích Hạnh
2. Thư ký phiên họp: Bà Huỳnh Thị Mỹ Duyên – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
Ngày 24 tháng 6 năm 2019, tại Cơ sở cai nghiện ma tuý thành phố Cần Thơ tiến hành phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại của Lâm Minh P đối với Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 08/2019/QĐ-TA ngày 07/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đối với:
Họ và tên: Lâm Minh P, giới tính: Nam.
Tên gọi khác: Không.
Sinh năm: 1985.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: 05/12.
Nghề nghiệp: Làm thuê.
Nguyên quán: Xã T, huyện H, tỉnh Hậu Giang.
Hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Hậu Giang.
Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Con ông Lâm H1 và bà Nguyễn Thị C1.
(Cómặt tại phiên họp)
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Hoàng O – Chức vụ: Trưởng phòng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện C
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Việt Q – Chức vụ: Viên chức Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện C
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên họp:Bà Cao Thị Lan – Kiểm sát viên.
Người khiếu nại: Lâm Minh P.
NHẬN THẤY:
Năm 2016, Lâm Minh P bắt đầu sử dụng ma túy nhưng chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và chưa từng bị đưa đi cai nghiện ở đâu.
Ngày 24/4/2019 Lâm Minh P sử dụng trái phép chất ma túy tại địa bàn xã T bằng hình thức tiêm. Đến ngày 26/4/2019 Công an xã Đông Phước kết hợp với Trạm y tế xã Đông Phước tiến hành test nhanh nước tiểu bằng que thử “Fastep” kết quả cho thấy Lâm Minh P dương tính với chất mà túy loại ma túy đá. Do Lâm Minh P không có nơi cư trú ổn định nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đông Phước ra quyết định đưa người nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện ma túy thành phố Cần Thơ để quản lý, cắt cơn, tại đây Lâm Minh P được cơ sở cai nghiện tiến hành test lại thì kết quả xác định Lâm Minh P có nghiện ma túy loại ma túy đá.
Người đại diện của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện C trình bày: Trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu thu thập nên Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện C có văn bản đề nghị số 239/PLĐTBXH ngày 24/5/2019 đề nghị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiên bắt buộc đối với Lâm minh P. Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lâm Minh P thời gian từ 12 đến 24 tháng.
Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 08/2019/QĐ-TA ngày 07/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang, quyết định: Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lâm Minh P.
Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng (Mười tám tháng), kể từ ngày 27/4/2019.
Ngoài ra, quyết định còn tuyên về quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/6/2019, Lâm Minh P có đơn khiếu nại, yêu cầu Toà án giảm thời gian chấp hành đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại phiên họp, anh P vẫn giữ nguyên khiếu nại. Anh P xin được giảm thời hạn chấp hành cai nghiện với lý do anh có bệnh ở chân và là thu nhập chính trong gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp phát biểu quan điểm: Tòa án đã thực hiện đúng thủ tục giải quyết khiếu nại, trình tự tiến hành phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại theo quy định của Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang áp dụng khoản 1 Điều 35 của Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, không chấp nhận khiếu nại của anh Lâm Minh P.
XÉT THẤY:
Về trình tự thủ tục: Sau phiên họp xem xét, Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang, ngày 08/6/2019 anh P có đơn khiếu nại yêu cầu giảm thời gian chấp hành đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Xét khiếu nại của anh P đã làm và nộp theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 31 và khoản 2 Điều 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Về nội dung giải quyết khiếu nại: Trong quá trình giải quyết vụ việc, tại tờ tự khai và các Biên bản ghi lời khai anh P thừa nhận có sử dụng ma túy đá với hình thức tiêm vào năm 2016, lần sử dụng ma túy gần đây nhất là vào ngày 24/4/2019, loại ma túy đá với hình thức tiêm. Theo lời khai của anh P trong hồ sơ vụ án thì anh không có nơi cư trú ổn định, cũng không có việc làm cố định. Tòa án cũng đã tiến hành xác minh nơi cư trú của Lâm Minh P (tại bút lục 44) ông Lâm Hoàng (là cha của anh P) xác nhận anh P không thường xuyên ở nhà, một năm chỉ về nhà khoảng 03 lần, mỗi lần chỉ ở 02 đến 03 ngày, gần đây nhất anh P đi từ tháng 2/2019 đến tháng 4/2019 mới về nhà một lần, ông Hoàng cũng không biết rõ anh P đi đâu.
Tại phiên họp anh P cho rằng vợ anh cũng có nghề nghiệp và con của anh đã 16 tuổi, hiện nay cũng đã đi làm, do đó xác định anh P không phải là lao động chính trong gia đình. Đối với khiếu nại xin được xem xét giảm thời hạn chấp hành là 18 tháng như Tòa án nhân dân huyện C đã tuyên. Tuy nhiên, xét thấy lý do anh P đưa ra là do bị bệnh ở chân là chưa có căn cứ chấp nhận. Bản thân anh P thừa nhận anh bắt đầu sử dụng ma túy từ 2017, anh thường xuyên bỏ nhà đi, không ở nơi cố định, không tích cực làm việc mà vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất mà túy, đồng thời địa P và gia đình anh P cũng không biết rõ anh P hiện nay đang làm gì và thường xuyên ở đâu, do vậy xét thấy cần thiết phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để có thời gian rèn luyện, thử thách. Mặt khác, theo quy định tại Điều 111, Điều 112 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Điều 18, Điều 19 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ, thì anh P không thuộc trường hợp được hoãn, miễn và giảm thời gian chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Căn cứ khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, quy định đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là “người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định…” và khoản 1 Điều 1 của Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ, quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa và cơ sở cai nghiện bắt buộc cũng có quy định về đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như sau: “người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, không có nơi cư trú ổn định…”. Nên việc Phòng lao động thương binh và xã hội huyện C đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh P là đúng pháp luật.
Nếu sau khi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc anh P có tiến bộ rõ ràng về việc chấp hành nội quy, quy chế tại cơ sở và tích cực học tập, lao động và có các thành tích xuất sắc khác sẽ được xem xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại cơ sở cai nghiện theo quy định của pháp luật. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận khiếu nại của anh P về việc yêu cầu xem xét lại thời hạn chấp hành 18 tháng.
Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang là có căn cứ chấp nhận.
Căn cứ khoản 1 Điều 35 của Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 111, Điều 112 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012;
Khoản 1 Điều 35 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án năm 2014;
Khoản 1 Điều 1 của Nghị định số 136/2016/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ, quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
Điều 18 và Điều 19 của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ;
Không chấp nhận khiếu nại của anh Lâm Minh P.
Giữ nguyên Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 08/2019/QĐ-TA ngày 07/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lâm Minh P.
Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng (Mười tám tháng), kể từ ngày 27/4/2019.
Quyết định giải quyết khiếu nại này là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành ngay.
Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh Hậu Giang và Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang có trách nhiệm phối hợp thi hành quyết định này. Nơi Nhận:
| - VKSND tỉnh Hậu Giang; - TAND huyện C; - Anh Lâm Minh P; - Công an huyện C; - Phòng LĐTB&XH huyện C; - Cơ sở cai nghiện ma túy TP. Cần Thơ; - UBND xã Đ; - UBND xã T; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Trịnh Thị Bích Hạnh |