- Tranh chấp gì? "QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thành L.
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 27 Luật Phòng, chống ma túy
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/QĐ -TA | Thành phố H, ngày 03 tháng 3 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH ĐỒNG THÁP
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Minh Thống.
2. Thư ký phiên họp: Bà Ngô Thị Kim Lài.
Ngày 03 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Htiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 03/QĐ-TA ngày 22 tháng 02 năm 2023, đối với:
- Họ và tên: Nguyễn Thành L.
- Sinh năm 1989.
- Nghề nghiệp: Không.
- Quốc tịch: Việt Nam.
- Dân tộc: Kinh.
- Tôn giáo: Không.
- Trình độ học vấn: 8/12.
- Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khóm C, phường B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Tiền án: Có 01 tiền án, về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”, xử phạt 06 tháng tù, chấp hành xong 29/9/2022.
- Tiền sự: Ngày 01/6/2020 bị Tòa án nhân dân thị xã H (nay là thành phố H) ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 04/3/2021 (Quyết định số: 18/QĐ-TA);
- Con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị N.
(Vắng mặt tại phiên họp không có lý do).
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Phan Thị Mỹ Đầy, là cán bộ Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố H.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H: Ông Phan Thái Trung, Kiểm sát viên.
3. Những người khác: Đại diện Công an phường B, thành phố H: Ông Đỗ Phạm Huy Khánh - Cán bộ công an phường B.
NHẬN THẤY:
Nguyễn Thành L đã đủ 18 tuổi trở lên, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: khóm C, phường B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Bản thân Nguyễn Thành L đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2019, loại ma túy đá.
Ngày 01/6/2020, Nguyễn Thành L bị bị Tòa án nhân dân thị xã H (nay là thành phố H) ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 04/3/2021.
Ngày 17/11/2022, nghi ngờ Nguyễn Thành L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nên Công an phường B mời về làm việc thì Nguyễn Thành L thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy tổng hợp (ma túy đá), lần sử dụng gần nhất là vào ngày 14/11/2022 tại khu vực thuộc địa bàn khóm C, phường B, thành phố H. Công an phường B tiến hành lập Biên bản vi phạm số: 46/BB-VPHC ngày 17/11/2022, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 23 của Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình. Cùng ngày, Công an phường B tiến hành xét nghiệm xác định chất ma túy trong cơ thể của L, kết quả thể hiện L dương tính với chất ma túy.
Căn cứ vào phiếu trả lời kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể nêu trên, Công an phường B tiến hành xác minh độ tuổi và nơi cư trú, thể hiện Nguyễn Thành L, sinh năm 1989, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại Khóm C, phường B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Đồng thời, Công an phường B ra Thông báo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của L đến Ủy ban nhân dân phường B.
Ngày 21/11/2022, Ủy ban nhân dân phường B ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn là 01 năm kể từ ngày ký quyết định.
Ngày 08/02/2023, nghi ngờ L tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an phường B tiến hành lấy lời khai và xét nghiệm chất ma túy đột xuất trong cơ thể thì L thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy, lần gần nhất vào ngày 02/02/2023 tại nhà thuộc khóm C, phường B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, kết quả thể hiện L dương tính với chất ma túy, nên Ủy ban nhân dân phường B lập Biên bản vi phạm số: 03/BB-VPHC ngày 09/02/2023, về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế quy định tại Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều Luật Phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quán lý sau cai nghiện ma túy.
Thực hiện theo Thông tư liên tịch số: 18/2021/TT-BYT ngày 16/11/2021 của Bộ y tế quy định về tiêu chuẩn chẩn đoán và quy trình chuyên môn để xác định tình trạng nghiện ma túy, Công an phường B tiến hành xác định tình trạng nghiện ma túy đối với L tại Bệnh viện đa khoa khu vực H, kết quả L nghiện ma túy đá (chất Amphetamin).
Ngày 09/02/2023, Ủy ban nhân dân phường B ra Quyết định số 06/QĐ-UBND dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy; Quyết định số 08/QĐ-UBND, về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Thông báo lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L.
Ngày 15/02/2023, Ủy ban nhân dân phường B có văn bản gửi đến Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố H đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thành L.
Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị: Đối tượng Nguyễn Thành L đã trên 18 tuổi, đăng ký hộ khẩu thường trú tại khóm C, phường B,thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và được Ủy ban nhân dân phường B ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn là 01 năm. Trong thời gian quản lý thì L tiếp tục có hành sử dụng trái phépchất ma túy nên bị Ủy ban nhân dân phường B lập biên bản vi phạm ngày 08/02/2023, đồng thời Bệnh viện đa khoa khu vực H xác định L đã nghiện ma túy (chất Amphetamin). Vì vậy Ủy ban nhân dân phường B đã ra Quyết định dừng quản lý và lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Từ cơ sở trên, ngày 17/02/2023 Phòng Lao động -Thương binh và Xã hội thành phố H có văn bản và chuyển hồ sơ đến Tòa án nhân dân thành phố H đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thành L.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Nguyễn Thành L đã nghiện ma túy và được người có thẩm quyền của Bệnh viện đa khoa khu vực H xác định (chất Amphetamin), tại thời điểm nghiện ma túy L đã trên 18 tuổi, có nơi cư trú ổn định, đã bị Ủy ban nhân dân phường B ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn là 01 năm. nhưng chưa tiến bộ, tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ Điều 6, 95, 96, 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy và các văn bản có liên quan. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố H xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L, thời hạn từ từ 16 tháng đến 18 tháng.
Đối với người bị đề nghị Nguyễn Thành L, lời khai trong hồ sơ thừa nhận: Đã sử dụng trái phép và nghiện ma túy từ năm 2019, bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc năm 2020, sau khi chấp hành xong thời gian cai nghiện thì tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị Ủy ban Nhân dân phường B lập biên bản vi phạm. L thừa nhận đã trên 18 tuổi, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: khóm C, phường B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
XÉT THẤY:
Tại phiên họp hôm nay, qua trình bày của đại diện cơ quan đề nghị, phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp, xét thấy:
Nguyễn Thành L thuộc đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021.
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đảm bảo đúng thẩm quyền. Trình tự, thủ tục lập hồ sơ đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 103, Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13, ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân và Nghị định số: 105/2021/NĐ-CP, ngày 04/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Phòng chống ma túy.
Về nội dung: Nguyễn Thành L đã sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2019. Ngày 17/11/2022, nghi ngờ L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an phường B mời về làm việc thì L thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy, lần gần nhất ngày 14/11/2022, nên Công an phường B tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính. Ngày 21/11/2022, Ủy ban nhân dân phường B ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn là 01 năm. Trong thời gian bị quản lý, ngày 08/02/2023 nghi ngờ L tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an phường B tiến hành lấy lời khai và xét nghiệm chất ma túy đột xuất trong cơ thể của L, kết quả thể hiện L dương tính với chất ma túy. Nên Ủy ban nhân dân phường B lập Biên bản vi phạm và ra Quyết định dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy. Công an phường B tiến hành xác định tình trạng nghiện ma túy đối với L tại Bệnh viện đa khoa khu vực H, kết qủa có nghiện ma túy (chất Amphetamin).
Ngày 15/02/2023, Ủy ban nhân dân phường B ra Thông báo lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L.
Tại phiên họp hôm nay, đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động -Thương binh và Xã hội thành phố H đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L, Tòa án nhân dân thành phố H xét thấy:
Nguyễn Thành L đã thừa nhận có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và tại thời điểm sử dụng và nghiện ma túy đã trên 18 tuổi, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khóm C, phường B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Trong thời gian áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, L lại tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 08/02/2023 bị Ủy ban nhân dân phường B lập biên bản vi phạm, đồng thời xác định L đã nghiện ma túy (chất Amphetamin). Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của L là xem thường kỷ cương pháp luật.
Như chúng ta đã biết, hậu quả của việc sử dụng trái phép chất ma túy không những gây tác hại cho sức khỏe, suy thoái nhân cách, phẩm giá người sử dụng mà còn làm ảnh hưởng đến cả gia đình của họ, khiến mất dần khả năng lao động, trở thành gánh nặng cho xã hội. Tác hại của ma túy còn khiến cho an ninh, trật tự, quốc phòng bất ổn, làm gia tăng tội phạm, bạo lực, vắt kiệt nhân lực, tài chính, hủy diệt tiềm năng quý báo mà lẽ ra phải được huy động phát triển kinh tế xã hội, đem lại ấm no, hạnh phúc cho mọi người.
Từ những hậu quả nguy hại trên, nên cần phải đưa L vào cơ sở điều trị nghiện bắt buộc một thời gian nhất định theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy; Điều 37 Nghị định số 105/2021/NĐ-CP, ngày 04/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Phòng chống ma túy; Điều 22 Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH13, ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, để có đủ điều kiện cai nghiện và giáo dục, giúp cho L có được sức khỏe tốt, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố H chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội thành phố H về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L.
Về tình tiết giảm nhẹ: Nguyễn Thành L tự nguyện khai báo hành vi sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Tại phiên họp hôm nay, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết từ khi thụ lý cho đến khi mở phiên họp, Thẩm phán, Thư ký được phân công đã thực hiện đúng theo quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục, xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Đồng thời đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội thành phố H. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp như nhận định trên, nên chấp nhận.
Từ những phân tích trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 6, 9, 95, 96, 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính;
Căn cứ các Điều 27 và khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy;
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thành L.
2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở điều trị nghiện bắt buộc là 18 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở điều trị nghiện bắt buộc.
3. Nơi chấp hành: Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp.
4. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại, Phòng Lao động -Thương binh và Xã hội thành phố H có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân thành phố H có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
5. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
6. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố H phối hợp với Công an thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
| Nơi nhận: - VKSND Tp. H; - Trưởng Phòng LĐ-TB&XH Tp. H; - Trưởng Công an Tp. H; - Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp; - UBND phường B; - Công an phường B; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Minh Thống |