vanban.org

Quyết định 05/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Ngọc S tại Cơ sở cai nghiện ma tuý thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh T; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định, người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "NGUYỄN NGỌC S"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Ngọc S tại Cơ sở cai nghiện ma tuý thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh T; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
  • Căn cứ chính? Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN BIÊN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/QĐ–TATân Biên, ngày 22 tháng 4 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: bà Nguyễn Thị Thanh Thúy.

2. Thư ký phiên họp: bà Nguyễn Thị Xuân.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 03/QĐ– TA ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Ngọc S, giới tính: nam; sinh ngày 18 tháng 11 năm 1995; CCCD số: 072095003117; ngày cấp: 03-4-2022; nơi cấp: Cục C – Bộ C1; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 4/12; nguyên quán: tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp T, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở hiện nay: Khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; tiền án: không có; tiền sự: Quyết định số 74/QĐ–XPHC ngày 18-8-2023 của Trưởng Công an thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh xử phạt vi phạm hành chính đối với S số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chưa chấp hành nộp phạt.

Con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Phạm Thị T1.

Anh Nguyễn Ngọc S vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: ông Nguyễn Chí S1 – Chức vụ: Phó Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện T (Quyết định về việc giao quyền tham dự các cuộc họp và ký văn bản đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số: 2007/QĐ–LĐTBXH ngày 29-12-2023); có mặt.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên họp: ông Nguyễn Phan Hoàng Nam – Kiểm sát viên; có mặt.

NHẬN THẤY:

Anh Nguyễn Ngọc S đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số: 74/QĐ–XPHC ngày 18-8-2023 của Trưởng Công an thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, chưa chấp hành nộp phạt. Tuy nhiên, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, anh S tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 21-02-2024, Trưởng Công an thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với anh S, kết quả anh Sơn dương t với chất ma túy trong cơ thể. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 27-02-2024 của Trung tâm Y tế huyện T, tỉnh Tây Ninh kết luận anh S có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là Methamphetamine. Sau khi có kết quả xác định tình trạng nghiện của anh S, ngày 27-02-2024 Công an thị trấn T, huyện T ban hành Thông báo số 13/TB-CATT về việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện và tống đạt cho anh S biết để thực hiện việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, nhưng hết thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được thông báo, anh S vẫn không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện.

Căn cứ Luật Phòng, chống ma túy; Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Ngọc S.

Tại phiên họp:

- Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh Tây Ninh đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Ngọc S tại Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh T, thời gian cai nghiện bắt buộc từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng.

- Anh S đã được tống đạt quyết định mở phiên họp đúng quy định của pháp luật, đảm bảo thời hạn tống đạt nhưng vắng mặt và có đơn xin vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13-12-2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt anh S.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Thẩm phán và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, không vi phạm về tố tụng.

Về việc xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính: xét thấy hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh Tây Ninh đã đầy đủ và có căn cứ để áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh S. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xem xét, quyết định đưa anh S đi cai nghiện bắt buộc thời gian từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:

- Thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 103, 104 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Điều 13 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13-12-2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số: 116/2021/NĐ– CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ.

- Về thời hiệu áp dụng: anh Nguyễn Ngọc S trình bày lần cuối cùng thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào khoảng tháng 02 năm 2024. Ngày 21-02-2024, Công an thị trấn T, huyện T phát hiện lập biên bản vi phạm đối với anh S. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) xác định hành vi của anh S còn thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm: anh Nguyễn Ngọc S là người thành niên, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tuy nhiên chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, anh S lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 27-02-2024 của Trung tâm Y tế huyện T, tỉnh Tây Ninh kết luận anh S có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là Methamphetamine. Ngày 27-02-2024 Công an xã thị trấn T, huyện T ban hành Thông báo số 13/TB-CATT về việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện và tống đạt cho anh S biết để thực hiện việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, nhằm mục đích điều trị cắt cơn, giải độc, điều trị các rối loạn tâm thần, điều trị các bệnh lý khác và giáo dục, tư vấn, phục hồi hành vi, nhân cách. Tuy nhiên hết thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được thông báo, anh S không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện.

Anh S là người đã thành niên, có đủ khả năng nhận thức tác hại của ma túy và hệ lụy của việc sử dụng ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi vi phạm. Hành vi của anh S là nguy hiểm cho xã hội, không những làm suy thoái về sức khỏe và đạo đức của bản thân mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, sự quản lý các chất ma túy của Nhà nước.

Tình tiết tăng nặng: anh S có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính mà lại thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đây là tình tiết tăng nặng “Tái phạm” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Tình tiết giảm nhẹ: quá trình lập hồ sơ đề nghị, anh S đã tự nguyện khai báo về hành vi vi phạm hành chính của mình và thành thật hối lỗi. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Về nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng: anh S đã xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa hết thời hạn được xem là chưa bị xử lý vi phạm hành chính lại tiếp nhưng lại tiếp tục vi phạm, điều này thể hiện ý thức chấp hành quy định pháp luật của anh chưa nghiêm.

Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ các Điều 6, 9, 10, 96, 103, 104 và 105 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy; Điều 13 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13-12-2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; các Điều 28, 40, 41, 42, 43 Nghị định số: 116/2021/NĐ–CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ: xét thấy, cần phải cách ly anh S ra khỏi môi trường xã hội trong một thời gian để quản lý, giáo dục và tạo dựng môi trường mới giúp anh sửa chữa những sai phạm của mình và có điều kiện chữa bệnh, học tập lành mạnh.

Đề nghị của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tại phiên họp về việc áp dụng biện phạp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh S là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Ngọc S tại Cơ sở cai nghiện ma tuý thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh T; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định, người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị đối với quyết định của Tòa án.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T, Công an huyện T có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ